TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 02/2024/KDTM-ST Ngày 06-8-2024 V/v: “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hoá” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Tiến Dũng
- Ông Nguyễn Văn Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hữu Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 05/2023/TLST-KDTM ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hoá” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-KDTM ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần D; địa chỉ: D C, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Viết tắt: Công ty D)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quang H, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Vũ Đức H1, sinh năm 1999; địa chỉ: H T, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy uỷ quyền số 03/2024/GUQ/PhaNam ngày 19/7/2024 của Công ty) (Có mặt)
2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên P; địa chỉ: số F, thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước (Viết tắt: Công ty P)
Đại diện theo pháp luật: Ông Trương Lương C, sinh năm 1964. Chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: số F, thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị H2, sinh năm 1979; địa chỉ: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Phần trình bày của đại diện nguyên đơn:
Theo Đơn khởi kiện, Đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần D (viết tắt: Công ty D) trình bày như sau: Năm 2019, Công ty D bán hàng hóa là thuốc chữa bệnh cho Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên P, địa chỉ số F, thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước do người đại diện theo pháp luật bà Trần Thị H2 làm Giám đốc.
Công ty D đã giao hàng, xuất hóa đơn cho Công ty P và hoàn thành nghĩa vụ của bên bán, cụ thể từ tháng 8/2019 đến tháng 7/2021, Công ty D đã xuất 09 hóa đoan và giao hàng cho Công ty P cụ thể như sau:
| Stt | Số hóa đơn | Ngày xuất hóa đơn | Số tiền (VNĐ) | Đã thanh toán (VNĐ) | Còn nợ (VNĐ) |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 0029623 | 20/8/2019 | 37.749.988 | 11.590.199 | 26.159.789 |
| 2 | 0030962 | 26/8/2019 | 27.249.990 | 0 | 27.249.990 |
| 3 | 0032838 | 04/9/2019 | 20.849.994 | 0 | 20.849.994 |
| 4 | 0032839 | 04/9/2019 | 50.599.983 | 0 | 50.599.983 |
| 5 | 0000155 | 15/01/2020 | 28.659.991 | 0 | 28.659.991 |
| 6 | 0025616 | 18/6/2020 | 46.499.985 | 0 | 46.499.985 |
| 7 | 0025617 | 18/6/2020 | 49.199.997 | 0 | 49.199.997 |
| 8 | 0092558 | 22/7/2021 | 13.300.000 | 0 | 13.300.000 |
| 9 | 0092559 | 22/7/2021 | 4.060.000 | 0 | 4.060.000 |
| CỘNG | 278.169.928 | 11.590.199 | 266.579.729 | ||
Tuy nhiên, Công ty P đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình cho Công ty D cho 09 đơn hàng nêu trên, dẫn đến tổng số nợ tồn đọng là 266.579.729 đồng (Hai trăm sáu mươi sáu triệu, năm trăm bảy mươi chín nghìn, bảy trăm hai mươi chín đồng).
Do đó, Công ty D đã ngừng cung cấp hàng cho Công ty P và gửi Thư nhắn nợ (thông báo thanh toán nợ quá hạn) yêu cầu Công ty P thanh toán số tiền hàng nêu trên, T nhắc nợ này đã được Công ty P ký xác nhận.
Ngày 31/3/2022, Công ty D gửi bảng đối chiếu công nợ cho Công ty P, Công ty P đã lý xác nhận và đề nghị Công ty D tạo điều kiện cho Công ty P chậm thanh toán nợ trong thời gian 03 tháng. Nhưng cho đến nay, mặc dù Công ty D đã tìm mọi cách thương lượng, thuyết phục, yêu cầu Công ty P thanh toán, nhưng Công ty P vẫn không thực hiện nghãi vụ thanh toán của mình.
Vì vậy, Công ty D khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước giải quyết buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P do ông Trương Lương C, chức vụ Giám đốc làm đại diện; địa chỉ: thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền 266.579.729 đồng (Hai trăm sáu mươi sáu triệu, năm trăm bảy mươi chín nghìn, bảy trăm hai mươi chín đồng) cho Công ty D.
2. Phần trình bày của bị đơn:
Bị đơn Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên P (viết tắt: Công ty P) do người đại diện theo pháp luật ông Trương Lương C trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Ông C không đồng ý với khởi kiện của Công ty D về việc yêu cầu buộc ông C với tư cách là người đại diện theo pháp luật của Công ty P cùng với Công ty P phải có nghĩa vụ liên đới thực hiện thanh toán số tiền 266.579.729 đồng nợ của Công ty D, vì ông C đã xin ngừng hoạt động đối với Công ty P, đồng thời trước đó khi bà Trần Thị H2 làm giám đốc Công ty P thì các hoạt động của Công ty P do bà H2 chịu trách nhiệm, ông C hoàn toàn không biết gì, sau đó bà H2 nói ông C đứng tên làm người đại diện theo pháp luật của Công ty P mục đích để tiếp tục duy trì hoạt động của Công ty, nhưng sau khi bà H2 chuyển giao về mặt pháp lý của Công ty P cho ông thì thực tế là không bàn giao giấy tờ hồ sơ, tài sản và con người của Công ty cho ông C để Ông duy trì hoạt động của Công ty P. Việc ông C đã ký xác nhận vào Bảng đối chiếu công nợ ngày 31/8/2022 và ngày 31/10/2022 là xác nhận việc nhân viên của Công ty D đến Công ty P để xác nhận công nợ, chứ không phải là xác nhận Công ty trách nhiệm hữu hạn phòng khám P có công nợ đối với Công ty D.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H2:
Trong quá trình giải quyết vụ án, qua xác minh tại nơi cư trú xác định bà Trần Thị H2 đã bỏ đi khỏi địa phương, không có địa chỉ mới hiện nay nên Tòa án chỉ thực hiện được các thủ tục niêm yết các thủ tục tố tụng cho bà H2 tại nơi cư trú cuối cùng, tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú cuối cùng của bà H2 và tại Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập nhưng bà H2 không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến trình bày của bà H2.
Ý kiến của Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên toà:
- - Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn Công ty Cổ phần D; địa chỉ: D C, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên P; địa chỉ: số F, thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước thanh toán khoản nợ mua bán hàng hóa là thuốc chữa bệnh. Công ty Cổ phần D và Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên P đều có đăng ký kinh doanh; Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên P có địa chỉ trụ sở tại xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước nên đây là vụ án kinh doanh thương mại về quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
[1.3] Về thời hiệu khởi kiện: Đơn khởi kiện của Công ty còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 427 Bộ luật dân sự năm 2005 nên được xem xét giải quyết.
[1.4]. Về sự vắng mặt của bị đơn ông C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H2 tại phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án, qua xác minh tại nơi cư trú xác định bà Trần Thị H2 đã bỏ đi khỏi địa phương, không có địa chỉ mới hiện nay nên Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết thủ tục tố tụng cho bà H2 tại nơi cư trú cuối cùng, tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú cuối cùng của bà H2 và tại Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập; Toà án đã hoãn phiên toà lần thứ nhất ngày 23 tháng 7 năm 2024 nên Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng .
[2] Về nội dung tranh chấp: Công ty Cổ phần D yêu cầu Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viêP Phòng khám P trả số tiền mua bán hàng hóa là 266.579.729 đồng mà công ty D còn nợ.
Căn cứ vào các hóa đơn bán hàng mà công ty D cung cấp và các bản đối chiếu công nợ ngày 31/3/2022; 31/8/2022; 31//10/2022 giữa hai bên thì xác định: Từ ngày 20/8/2019 đến ngày 22/7/2021, công ty D đã bán hàng hóa cho công ty P với 09 lần xuất hóa đơn với số tiền 266.579.729 đồng với hàng hóa là thuốc chữa bệnh. Sau khi giao hàng hóa thì bên công ty D sẽ xuất hóa đơn bán hàng nhưng công ty P chưa thanh toán tiền hàng hóa cho công ty D. Như vậy, công ty P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngoài ra, công ty P không cung cấp chứng cứ chứng minh cho việc mình đã thanh toán số tiền này hay chưa mà đại diện công ty P cho rằng khi ông nhận chức vụ giám đốc công ty thì chưa được bà H2 là giám đốc cũ bàn giao các khoản nợ nên ông không đồng ý việc Công ty P phải trả các khoản nợ này cho công ty D. Việc trình bày trên của ông C là giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của công ty là không có căn cứ. Vì vậy, yêu cầu của công ty D là có căn cứ nên được chấp nhận, buộc công ty P phải có nghĩa vụ trả cho công ty D số tiền 266.579.729 đồng.
Về tiền lãi suất bên nguyên đơn không có yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm thì các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 30, 35, 39, 40, 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Căn cứ các điều 468 của Bộ luật Dân sự 2005;
Căn cứ các điều 34, 50, 55 của Luật thương mại 2005;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Dược Pha Nam
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Buộc bị đơn Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên P phải nộp 13.328.986 đồng (Mười ba triệu ba trăm hai mươi tám nghìn chín trăm tám mươi sáu đồng)
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Buộc bị đơn Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên P phải có nghĩa vụ trả cho Công ty Cổ phần D số tiền 266.579.729 đồng (Hai trăm sáu mươi sáu triệu, năm trăm bảy mươi chín nghìn, bảy trăm hai mươi chín đồng)
Trả lại cho nguyên đơn Công ty Cổ phần D số tiền tạm ứng án phí 6.664.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006663 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết |
Về quan hệ hợp đồng vay tài sản và thế chấp quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị Bạch T1-Chủ doanh nghiệp tư nhân L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Bản án số 02/2024/KDTM-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
- Số bản án: 02/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hoá
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty Pha Nam
