Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦU KÈ

TỈNH TRÀ VINH

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***

Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06-02-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Tú.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Thanh Xuân;

Ông Đặng Lễ Nghi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đức Trọn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thân - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Ông Trần Văn G, sinh năm 1973 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 6 năm 2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị T là nguyên đơn trình bày:

Bà T và ông Trần Văn G bắt đầu chung sống vào năm 2001 trong quá trình chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, trong thời gian chung sống bà và ông G có 02 con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 18/8/2002 và Trần Thị Yến N, sinh ngày 12/11/2014.

Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn tới ly hôn là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau hay cự cãi chuyện gia đình nên chung sống không hạnh phúc. Bà và ông G đã không còn chung sống với nhau từ tháng 4/2021 cho đến nay.

Nay bà Nguyễn Thị T yêu cầu:

  • - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T xác định vợ chồng không còn hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn G.
  • - Về con chung: Con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 18/8/2002 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Trước đây, bà T có yêu cầu được nuôi con chung tên Trần Thị Yến N, sinh ngày 12/11/2014 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Nay bà thống nhất giao con chung tên Trần Thị Yến N, sinh ngày 12/11/2014 cho ông Trần Văn G trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/12/2024 ông Trần Văn G là bị đơn có lời khai trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị T bắt đầu chung sống vào năm 2001, trong quá trình chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, ông và bà T có 02 con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 18/8/2002 và Trần Thị Yến N, sinh ngày 12/11/2014. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn tới ly hôn là do vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn xảy ra trầm trọng, không thể hàn gắn được. Ông và bà T đã không còn chung sống với nhau từ năm 2021 đến nay.

Về quan hệ hôn nhân: Ông G xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa nên cũng thống nhất đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị T.

Về con chung: Con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 18/8/2002 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Ông G yêu cầu được nuôi con chung tên Trần Thị Yến N, sinh ngày 12/11/2014 không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông Trần Văn G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông Trần Văn G khai ông và bà T không có nợ ai.

Trần Thị Yến N, sinh ngày 12/11/2014 là con chung của bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn G trình bày: Sau khi cha, mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng sống với cha Trần Văn G.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn ông G chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Căn cứ trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. Cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Trần Văn G.

Về con chung: Con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 18/8/2002 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Giao cho ông Trần Văn G được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Yến N, sinh ngày 12/11/2014. Đây cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Trần Thị Yến N.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông Trần Văn G không yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn G không yêu cầu nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn G không có nên không xem xét

Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và bị đơn cư trú tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn ông Trần Văn G vắng mặt tại phiên tòa và có đơn yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
  3. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn G kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn của bà T và ông G là bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, chung sống với nhau không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, đã không còn chung sống từ năm 2021 cho đến nay, tại biên bản xác minh ngày 20/12/2024 đối với ông Đặng Văn T2, Trưởng ban N1, xã T xác nhận ông G và bà T không còn chung sống với nhau đã nhiều năm nay, quá trình chung sống ông G và bà T hay cự cãi với nhau, không có hạnh phúc. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn G là có thật, hai người không tự giải quyết được với nhau, chứng minh cuộc sống vợ chồng đã xảy ra trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cho nên bà Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn, ông Trần Văn G cũng đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị T. Do đó, căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông G.
  4. Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn G trình bày có 02 người con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 18/8/2002 và Trần Thị Yến N, sinh ngày 12/11/2014. Do con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 18/8/2002 đã trưởng thành nên bà T và ông G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Bà T và ông G thống nhất giao con chung tên Trần Thị Yến N, sinh ngày 12/11/2014 cho ông Trần Văn G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, cháu Trần Thị Yến N cũng có nguyện vọng sống với cha, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến thỏa thuận này của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên Trần Thị Yến N, sinh ngày 12/11/2014 cho ông Trần Văn G tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  5. Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông G đã được Tòa án giải thích các quy định của pháp luật về người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng ông G cho rằng ông có đủ khả năng và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung nên ông không có yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con chung Trần Thị Yến N, sinh ngày 12/11/2014 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  6. Về chia tài sản: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn G khai không tranh chấp, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  7. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn G khai không có, không tranh chấp, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  8. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  9. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39; 147 Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. Cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Trần Văn G.
  2. Về con chung: Chấp nhận ý kiến thỏa thuận của bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn G. Giao con chung tên Trần Thị Yến N, sinh ngày 12/11/2014 cho ông Trần Văn G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Đây cũng là phù hợp với ý chí nguyện vọng của cháu Trần Thị Yến N là muốn được sống với cha.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trần Văn G không tranh chấp với bà Nguyễn Thị T nên không xem xét giải quyết.
  4. Về chia tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T không tranh chấp với ông Trần Văn G nên không xem xét giải quyết.
  5. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T không tranh chấp với ông Trần Văn G nên không xem xét giải quyết.
  6. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0008781 ngày 08/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn ông Trần Văn G vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Cầu Kè;
  • - CC.THA-DS huyện Cầu Kè;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thành Tú

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. Cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Trần Văn G.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger