|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05 – 01 – 2024 V/v tranh chấp Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
- - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn – Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
- - Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Ông Võ Phan Hưng – kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 707/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp Ly hôn, nuôi con”
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 630/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 591/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Ngũ Thị Bé B, sinh năm 1985. Có đơn xin vắng mặt
- Địa chỉ: số H, đường H, khóm Đ, phường M, Tp ., tỉnh An Giang. SĐT: 0973.735.xxx
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1980. Vắng mặt
- Địa chỉ: số H, đường H, khóm Đ, phường M, Tp ., tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
- Nguyên đơn bà Ngũ Thị Bé B trình bày trong quá trình giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Ông bà tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND phường M vào năm 2006. Ông bà chung sống hạnh phúc thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm thường xuyên cự cãi. Hôn nhân không có hạnh phúc nên bà Bé B yêu cầu ly hôn với ông S.
Về con chung: Ông bà có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 15/9/2003, Nguyễn Tường V, sinh ngày 05/7/2010, Nguyễn Gia B1, sinh ngày 14/01/2016.
- Cháu T nay đã lớn và đã có công việc tự nuôi sống bản thân. Cháu V và cháu Gia B1 thì hiện đang sống cùng ông bà và ông bà nội, do ông bà sống cùng nhà với ông bà nội từ khi cưới cho đến nay. Để cho các con được ổn định đi học và có nơi sinh sống cũng như ông bà nội không đồng ý cho bà dẫn các con đi nên bà đồng ý giao con chung cho ông S được tiếp tục nuôi dưỡng.
- Cấp dưỡng nuôi con: bà đồng ý cấp dưỡng 1.000.000đ/tháng/con chung, 02 con chung là 2.000.000đ/tháng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: giải quyết theo quy định pháp luật.
- - Bị đơn ông Nguyễn Thanh S đã được Tòa án tổng đạt các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật nhưng ông không gửi văn bản tự khai và không tham gia tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến của ông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về tố tụng:
- [1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Bé Ba khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông S, địa chỉ cư trú của ông S thuộc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [1.2] Về thủ tục tố tụng: Bà Ngũ Thị Bé B và ông Nguyễn Thanh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng bà B2 Ba có đơn xin xét xử vắng mặt, ông S thì vắng mặt không có lý do chính đáng tại phiên toà lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Bé B, ông S theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
-
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
- [2.1] Bà Bé B và ông S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 08/11/2006 tại UBND phường M, thành phố L, tỉnh An Giang nên được pháp luật Việt Nam công nhận hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp. Nay cuộc sống hôn nhân phát sinh mâu thuẫn và tình cảm vợ chồng không còn nên bà B2 Ba yêu cầu được ly hôn với ông S.
- [2.2] Tòa án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông S để ông thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Ông S trực tiếp ký nhận các văn bản tố tụng nhưng ông vẫn vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như ông tự từ bỏ quyền lợi của bản thân.
- [2.3] Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau cũng như chia sẻ, hỗ trợ nhau trong cuộc sống nhưng trên thực tế giữa ông bà đã phát sinh mâu thuẫn, không còn sự thăm nom, chăm sóc lẫn nhau và không còn chung sống cùng nhau. Nay bà Bé B vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, từ chối hòa giải và xin vắng mặt khi xét xử cho thấy sự cương quyết trong việc yêu cầu ly hôn, ông S thì trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho ông bà hàn gắn lại với nhau nhưng ông S vắng mặt cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đến Tòa án, điều này chứng tỏ ông S không có thiện chí muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình, không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà Bé B. Như vậy cho thấy cuộc sống chung của ông bà không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai do đó yêu cầu ly hôn của bà B2 Ba với ông S là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [2.4] Về con chung: Ông S và bà B2 Ba có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 15/9/2003, Nguyễn Tường V, sinh ngày 05/7/2010, Nguyễn Gia B1, sinh ngày 14/01/2016. Khi ly hôn, bà Bé B đồng ý giao con chung là cháu V và cháu Gia B1 cho ông S được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng 1.000.000đ/tháng/con chung. Ông S không có ý kiến về người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu T nay đã thành niên và có khả năng lao động nên không giải quyết về người nuôi con và cấp dưỡng đối với cháu T. Riêng cháu V và cháu Gia B1 từ nhỏ đã sống cùng ông S và ông bà nội, nay bà Bé B đồng ý giao con chung cho ông S tiếp tục nuôi dưỡng để thuận tiện việc học của các cháu. Do đó để đảm bảo ổn định trong cuộc sống sinh hoạt, học tập cho con chung, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của cháu V, cháu B1 nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho ông S được tiếp tục nuôi dưỡng.
- [2.5] Về cấp dưỡng nuôi con: ông S không có yêu cầu, bà Bé B đồng ý cấp dưỡng 1.000.000đ/tháng/con chung, mức cấp dưỡng này là phù hợp với quy định pháp luật (hiện ½ tháng lương cơ sở là 900.000đ/tháng) và mức thu nhập của bà Bé B nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà B2 Ba có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu V và cháu B1 với mức 1.000.000đ/tháng/con chung từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động.
- [2.6] Bà Bé Ba và các thành viên gia đình không được cản trở ông S trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu sẽ được giải quyết thành vụ án khác.
- [2.7] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- [2.8] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: bà B2 Ba phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông S không phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngũ Thị Bé B.
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Ngũ Thị Bé B ly hôn với ông Nguyễn Thanh S. Giấy chứng nhận kết hôn số 143/MX, quyển số 01/06, ngày 08 tháng 11 năm 2006 của Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang cấp cho bà B2 Ba và ông S không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Về quan hệ con chung: Ông S và bà B2 Ba có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 15/9/2003, Nguyễn Tường V, sinh ngày 05/7/2010, Nguyễn Gia B1, sinh ngày 14/01/2016. Cháu Huyền T đã thành niên và có khả năng lao động. Giao con chung Nguyễn Tường V, Nguyễn Gia B1 cho ông Nguyễn Thanh S được trực tiếp nuôi dưỡng.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Ngũ Thị Bé B có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu V và cháu B1 với mức 1.000.000đ/tháng/con chung từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động.
- Bà Ngũ Thị Bé B và các thành viên gia đình không được cản trở ông S trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu sẽ được giải quyết thành vụ án khác.
- - Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- - Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Ngũ Thị B3 Ba phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001065 ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên. Ông Nguyễn Thanh S không phải chịu án phí sơ thẩm.
- Bà Ngũ Thị Bé B và ông Nguyễn Thanh S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Cẩm Hường |
Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 02/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho ly hôn, xét xử vắng mặt
