Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST

Ngày 05-01-2024

V/v Tranh chấp về hôn nhân

và gia đình – Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Văn Dũng.
  2. Bà Bùi Thị Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 298/2023/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn và nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 463/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Quách Lê, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Số nhà A, đường N, tổ D, khóm D, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: Lê Dương H, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Số nhà C, đường B, tổ F, khóm D, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị L, anh H đều có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn là Quách L1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L1 và anh H kết hôn vào năm 2006, nhưng không có đăng ký kết hôn.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và vợ chồng ly thân sống xa nhau từ năm 2017 cho đến nay. Mặc dù đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng không thành. Nhận thấy, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị L1 yêu cầu được ly hôn với anh Lê Dương Huỳnh.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Ánh H1, sinh ngày 07/4/2007. Hiện nay con chung đang sống với chị L1. Sau khi ly hôn, chị L1 yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Lê Ánh H1 và không yêu cầu anh Lê Dương H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn là Lê Dương H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Huỳnh thống n lời trình bày của chị L1 về thời gian chung sống từ năm 2006 nhưng không đăng ký kết hôn; mâu thuẫn giữa vợ chồng và vợ chồng ly thân sống xa nhau từ năm 2017 cho đến nay. Tại phiên tòa, anh H đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị L1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Ánh H1, sinh ngày 07/4/2007, hiện nay con chung đang sống với chị L1. Sau khi ly hôn, anh H tự nguyện đồng ý giao con chung Lê Ánh H1 cho chị L1 trực tiếp nuôi dưỡng và anh H không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện chị Quách L1 yêu cầu được ly hôn với anh H và yêu cầu nuôi con nên xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn là Lê Dương H có nơi cư trú tại số C, đường B, tổ F, khóm D, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị L1 và anh H tự nguyện sống chung như vợ chồng từ năm 2006. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và vợ chồng ly thân sống xa nhau từ năm 2017 cho đến nay. Mặc dù có đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nhưng không có đăng ký kết hôn. Nay chị L1 yêu cầu ly hôn với anh H và anh H đồng ý ly hôn với chị L1.

Xét thấy, chị L1 và anh H tự nguyện sống chung như vợ chồng từ năm 2006, mặc dù có đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nhưng không có đăng ký kết hôn nên đã vi phạm Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý".

Tại khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình có quy định:

“1. N, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.”

Tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”

Căn cứ vào các Điều 9, Điều 14, Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Quách L1 và anh Lê Dương Huỳnh.

[2.2] Về con chung:

Chị L1 và anh H có 01 con chung tên Lê Ánh H1, sinh ngày 07/4/2007, hiện con chung đang sống với chị L1. Sau khi ly hôn, chị L1 và anh H thống nhất giao con chung cho chị L1 tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Lê Ánh H1 và chị L1 không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, con chung đang sống với chị L1 đã ổn định và ý kiến của con chung là Lê Ánh H1 có nguyện vọng được sống với chị L1; chị L1 và anh H thống nhất giao con chung là Lê Ánh H1 cho chị L1 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, quy định:

“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”

Căn cứ quy định nêu trên, để đảm bảo điều kiện sống tốt nhất về mọi mặt của con chung nên cần thiết giao con chung là Lê Ánh H1 cho chị L1 tiếp tục nuôi dưỡng. Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L1 về việc yêu cầu được nuôi con chung là Lê Ánh H1, giao con chung là Lê Ánh H1 cho chị Quách Lê trực t nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con:

Không yêu cầu nên không xem xét.

[2.4] Về tài sản và nợ chung:

Không yêu cầu nên không xem xét.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Quách Lê p chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Anh Lê Dương H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, 14, 53, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Quách L1 và anh Lê Dương Huỳnh.
  • - Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Quách L1, giao con chung tên Lê Ánh H1, sinh ngày 07/4/2007 cho chị L1 trực tiếp nuôi dưỡng, hiện con chung đang sống với chị L1.
  • Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
  • Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
  • - Về tài sản và nợ chung: Không xem xét.
  • - Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Quách Lê p chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000084, ngày 24/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. Chị Quách L1 đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
  • Anh Lê Dương H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TPCL;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thanh Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hôn nhân và gia đình – ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 02/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quách L yêu cầu ly hôn với Lê Dương H và yêu cầu nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger