Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HSPT

Ngày 05 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng, ông Vũ Duy Luân

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 158/2023/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 do có kháng cáo của các bị cáo Đào Xuân H và Bùi Thị L đối với bản án hình sự sơ thẩm số 52/2023/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2023/QĐXXPT-HS ngày 27/11/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2023/HSPT-QĐ ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Đào Xuân H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Xuân T (đã chết) và bà Hoàng Thị L1; có vợ là Đỗ Thị N (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 31/2023/HS-ST ngày 04/7/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương xử phạt 07 tháng tù về tội “đánh bạc”, đã chấp hành xong hình phạt ngày 27/8/2023. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
  2. Bùi Thị L, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Công D và bà Đào Thị Y, có chồng là Phạm Xuân T1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo H và L: Ông Ngô Duy Đ - Luật sư Văn phòng L2, Đoàn luật sư tỉnh N. Địa chỉ: Xóm G, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Có mặt.

- Người làm chứng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 01/2023, Đào Xuân H và Bùi Thị L thỏa thuận, thống nhất về việc H sẽ ghi số lô, số đề của người khác rồi chuyển bảng số lô, số đề cho L: một điểm đề, một điểm đề ba càng tương đương với 1.000 đồng, một điểm lô tương đương 22.500 đồng, một điểm lô xiên 2, xiên 3, xiên 4 tương đương 1.000 đồng, sau đó L trả tiền phần trăm cho H là 18% trên tổng số tiền chơi số đề, số đề 3 càng, số lô xiên 2, xiên 3, xiên 4 và 700 đồng trên một điểm số lô; H và L căn cứ vào kết quả xổ số miền B mở thưởng từ 18 giờ 15 đến 18 giờ 30 hàng ngày để xác định việc thắng thua: 02 số cuối giải đặc biệt làm số đề, 03 số cuối giải đặc biệt làm số ba càng, 02 số cuối của 27 dãy số của 08 giải làm số lô; còn số lô xiên 2, xiên 3, xiên 4 lần lượt là chuỗi 2, 3, 4 số lô có trong 27 dãy số của 08 giải. Nếu trúng thì L sẽ phải trả cho H số tiền: một điểm đề sẽ được gấp 80 lần số tiền đã chơi, một điểm ba càng sẽ được gấp 400 lần số tiền đã chơi, một điểm lô sẽ được 80.000 đồng, một điểm lô xiên 2, xiên 3, xiên 4 lần lượt sẽ được gấp 10 lần, 45 lần, 150 lần số tiền đã chơi, còn nếu không trúng thì H sẽ phải trả số tiền đã ghi số lô, số đề cho L (sau khi đã trừ tiền phần trăm chiết khấu). Ngày 25/01/2023 và ngày 26/01/2023 H tự chơi đánh bạc mà không phải ghi của người nào khác, sau đó H đã sử dụng tài khoản zalo được đăng kí bằng số điện thoại mà H sử dụng là 0366.714.253 để chuyển các số lô đến tài khoản zalo được đăng kí bằng số điện thoại mà L sử dụng là 0346.127.656. Cụ thể như sau:

Ngày 25/01/2023 H đã chơi và gửi cho L 605 điểm lô là: Lô 19, 91, 69, 96, 39, 93, 99, 36, 63, 26, 62, 13, 31, 18, 81, 11, 89, 98, 79, 97, 68, 86, 03, 30, 45, 54, 08, 80, 06, 60, 28, 82, 17, 71, 56, 65, 22, 38, 83, 12, 21, 46, 64, 59, 95, 55, 74, 47, 32, 34, 88 (mỗi số lô 10 điểm), Lô 33 (lô 33 là 70 điểm), Lô 40, 04, 16, 61, 66 (mỗi số lô 05 điểm). Sau khi trừ % một điểm lô H phải trả cho L là 21.800 đồng. Số tiền H và L sử dụng đánh bạc trong ngày là 13.189.000 đồng.

Ngày 26/01/2023 H đã chơi và gửi cho L 590 điểm lô là: 25, 52, 17, 71, 12, 2,1 45, 54, 15, 51, 24, 42, 14, 41, 27, 72, 22, 38, 83, 47, 74, 35, 53, 33, 03, 30, 05, 50, 46, 64, 56, 65, 59, 95, 29, 92, 19, 91 02, 20, 69, 96, 57, 75, 79, 97, 16, 61, 07, 70, 55, 01, 10, 48, 84 32, 23, 74, 33 (mỗi số lô 10 điểm). Sau khi trừ % một điểm lô H phải trả cho L là 21.800 đồng. Số tiền H và L sử dụng đánh bạc trong ngày là 12.862.000 đồng.

Căn cứ kết quả xố số miền Bắc mở thưởng:

Ngày 25/01/2023 H đã trúng 145 điểm lô gồm các số: 63, 18, 11, 03, 54, 28, 82, 71, 56, 83, 12 mỗi số 10 điểm, số lô 55 x 10 điểm (số lô 55 có 2 lần, tức là trúng 20 điểm), 47 x 10 điểm (mỗi số lô 10 điểm), 40 x 5 điểm (mỗi số lô 05 điểm). Tổng số tiền H đã trúng các số lô trong ngày là 11.600.000 đồng.

Ngày 26/01/2023 H đã trúng 140 điểm lô gồm các số: 25, 42, 83, 53, 46, 02, 20, 57, 16, 32 x 10 điểm (mỗi số lô 10 điểm), 74 x 20 điểm, 64 x 10 điểm (số lô 64 có 2 lần nên trúng 20 điểm). Tổng số tiền H đã trúng các số lô trong ngày là 11.200.000 đồng.

Tổng số tiền H và L sử dụng để đánh bạc mua số lô và số tiền trúng các số lô trong ngày 25/01/2023, ngày 26/01/2023 là 48.851.000 đồng. Số tiền dùng để đánh bạc và trúng các số lô, H và L đã ghi nhận nợ với nhau nhưng đến nay chưa chuyển tiền cho nhau. Ngày 27/01/2023, khi biết H bị Công an tỉnh T bắt quả tang về hành vi Đánh bạc được thua bằng tiền cùng các đồng phạm khác, L và H không liên lạc với nhau nữa.

Bản án sơ thẩm số 52/2023/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; khoản 2, 3 Điều 35; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 47, Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội.

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Đào Xuân H, Bùi Thị L phạm tội “ Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:
    • Xử phạt bị cáo Đào Xuân H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
    • Xử phạt bị cáo Bùi Thị L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/10/2023, bị cáo Đào Xuân H và bị cáo Bùi Thị L kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm. Bị cáo H thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo L giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo kháng cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Xuân H, giữ nguyên mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo H.

Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị L, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo.

Người bào chữa cho các bị cáo tranh luận: Các bị cáo nhận thức được sai lầm của mình, đều đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Các bị cáo đều đã tự nguyện thi hành khoản tiền phạt và số tiền bị tịch thu sung quỹ Nhà nước như bản án sơ thẩm đã tuyên. Tại phiên tòa, bị cáo H thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo H có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã ly hôn và có một con nhỏ, bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định.

Còn bị cáo L có nhân thân tốt, có chỗ ở rõ ràng, bị cáo có 2 con nhỏ, buôn bán nhỏ, thu nhập không đáng kể, đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo L được hưởng án treo.

Các bị cáo trình bày tranh luận và nói lời sau cùng: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo thấy:

    Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng tháng 01/2023, Đào Xuân H và Bùi Thị L thỏa thuận với nhau về việc đánh bạc bằng hình thức chơi số lô, số đề được thua bằng tiền, sau đó dùng tài khoản zalo của mình để chuyển và nhận các số lô, số đề. Ngày 25/01/2023 H đã đánh bạc bằng hình thức chơi các số lô với L là 605 điểm lô và đã trúng 145 điểm lô; tổng số tiền H và L sử dụng để đánh bạc trong ngày là 24.789.000 đồng. Ngày 26/01/2023 H đã đánh bạc bằng hình thức chơi các số lô với L là 590 điểm lô và đã trúng 140 điểm lô; tổng số tiền H và L sử dụng để đánh bạc trong ngày là 24.062.000 đồng. Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo H khai nhận: Do muốn chơi lô với giá tiền thấp hơn nên nghĩ ra việc thoả thuận với bị cáo L sẽ ghi số của người khác rồi chuyển cho L để chiết khấu tiền phần trăm hoa hồng, như vậy xác định số lô bị cáo chuyển cho bị cáo L là số lô bị cáo tham gia đánh bạc. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Đào Xuân H và Bùi Thị L về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, là mầm mống làm tan vỡ hạnh phúc gia đình và phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm trong xã hội khác, đi ngược lại với nỗ lực của Nhà nước và nhân dân trong việc đấu tranh, triệt phá nạn lô đề, cờ bạc trong xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài nên vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo xuất trình biên lai thu tiền thể hiện việc đã tự nguyện thi hành khoản tiền phạt và nộp lại số tiền bị tịch thu sung quỹ Nhà nước như bản án sơ thẩm đã tuyên, đây là tình tiết mới cần xem xét. Tuy nhiên bị cáo H có nhân thân xấu do từng bị Tòa án xét xử về tội “đánh bạc”, bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo mức hình phạt 02 năm tù, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đối với bị cáo L, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, đối chiếu với quy định tại Bộ luật hình sự và Điều 2, khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, bị cáo đủ điều kiện để có thể được xem xét cho hưởng án treo. Vì vậy, bản án sơ thẩm buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là có phần nghiêm khắc. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bị cáo L có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên cần giữ nguyên mức hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

  3. [3] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Đào Xuân H không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, kháng cáo của bị cáo Bùi Thị L được chấp nhận nên không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đào Xuân H, giữ nguyên mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Đào Xuân H của bản án sơ thẩm số 52/2023/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị L, sửa bản án sơ thẩm số 52/2023/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình theo hướng giữ nguyên mức hình phạt, cho bị cáo Bùi Thị L được hưởng án treo.

Cụ thể:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đào Xuân H, Bùi Thị L phạm tội “ Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:
    • Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; khoản 2, 3 Điều 35; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 47, Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Xuân H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
    • Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; khoản 2, 3 Điều 35; Điều 38 điểm b khoản 1 Điều 47, Điều 50; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thị L 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 05/01/2024.

    Giao bị cáo Bùi Thị L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo Bùi Thị L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Bùi Thị L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí: Bị cáo Đào Xuân H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo Bùi Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án ngày 05/01/2024.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND, VKSND, CA, THADS huyện Kiến Xương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Tuấn Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HSPT ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 02/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Xuân H, Bùi Thị L phạm tội “ Đánh bạc”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger