Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 05-01-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Ngọc

Bà Trần Thị Mỹ Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2023/TLPT - HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 01/2022/HNGĐ-ST ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 23/2023/QĐPT-HNGĐ ngày 06/11/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Xóm P, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn anh Nguyễn Xuân T: Luật sư Lâm Thị Thanh H; Công ty L; Địa chỉ: Số A, đường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Hồ Thị H1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Xóm I, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Xóm P, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ nơi làm việc: Ngân hàng TMCP P, Chi nhánh B1, Phòng G1 – 141Bis, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn chị Hồ Thị H1: Luật sư Nguyễn Văn G, Công ty L1; Địa chỉ: Số G, đường T, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn chị Hồ Thị H1: Bà Nguyễn Thị Thanh H2, Công ty L1; Địa chỉ: Số G, đường T, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

* Người kháng cáo: Chị Hồ Thị H1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Xóm 1, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Xóm P, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ nơi làm việc: Ngân hàng TMCP P, Chi nhánh B1, Phòng G1 – 141Bis, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Là: Bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Xuân T và chị Hồ Thị H1 kết hôn với nhau vào ngày 04/01/2012 có đăng ký kết hôn tại UBND xã D. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có tìm hiểu, không ai bị ép buộc hay lừa dối. Sau khi cưới vợ chồng chung sống với nhau được thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính tình, quan điểm sống khác nhau, dẫn tới vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Từ tháng 12 năm 2020 thì vợ chồng sống ly thân, chị H1 bỏ về nhà bố mẹ đẻ và đi Bình Dương làm việc sau đó vài tháng, từ đó đến nay vợ chồng không quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Anh T trực tiếp nuôi con chung nhưng chị H1 cũng không quan tâm, hỏi han. Nay anh T thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống chung với chị H1 nên anh T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H1.

Về con chung: Vợ chồng anh T và chị H1 có hai con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 11/08/2012 và Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 04/01/2017. Hiện tại hai con chung đang sống với anh T. Nếu ly hôn anh T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu hai con chung và không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Hồ Thị H1: Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương và gia đình chị H1 thì chị Hồ Thị H1 hiện đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm P, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An nhưng không có mặt tại địa phương. Toà án nhân dân huyện Diễn Châu đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị H1 để chị H1 đến Toà án nhân dân huyện Diễn Châu giải quyết việc anh Nguyễn Xuân T xin ly hôn nhưng chị H1 đều vắng mặt không có lý do.

Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 01/2022/HNGĐ-ST ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Xuân T và chị Hồ Thị H1.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 11/08/2012 và Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 04/01/2017 cho anh Nguyễn Xuân T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Hồ Thị H1.

Chị Hồ Thị H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Anh Nguyễn Xuân T cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/5/2022, ngày 23/6/2022 và ngày 11/8/2022, bị đơn chị Hồ Thị H1 kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2022/HNGĐ-ST ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An với nội dung đề nghị cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm. Ngày 22/02/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã có Quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn số 01/2023/QĐ-PT chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của chị H1. Vì vậy, ngày 12/4/2023, chị Hồ Thị H1 lại tiếp tục có đơn kháng cáo không đề nghị hủy Bản án sơ thẩm mà chỉ đề nghị giải quyết về vấn đề người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Đến đơn kháng cáo bổ sung do Tòa án nhận ngày 03/8/2023, chị H1 không đề nghị hủy Bản án sơ thẩm mà chỉ đề nghị giao hai con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Tại phiên toà phúc thẩm, chị Hồ Thị H1 xác nhận: về quan hệ hôn nhân do hiện nay anh T đã kết hôn với người phụ nữ khác đã có con chung nên chị cũng đồng ý ly hôn với anh T; về con chung: chị yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giao hai người con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 11/08/2012 và Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 04/01/2017 cho chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận chị được quyền trực tiếp nuôi một con chung thì nguyện vọng của chị là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 04/01/2017. Chị không yêu cầu anh Nguyễn Xuân T phải cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, nguyên đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm; bị đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn không yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm, không yêu cầu xem xét về quan hệ hôn nhân mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết về vấn đề người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo: Kháng cáo của chị H1 đã được Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An chấp nhận kháng cáo quá hạn, chị H1 cũng đã nộp tiền tạm ứng án phí đầy đủ nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý là đúng quy định. Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận kháng cáo của chị Hồ Thị H1: sửa Bản án sơ thẩm về phần con chung: Giao cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 11/8/2012 cho anh Nguyễn Xuân T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 04/01/2017 cho chị Hồ Thị H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Hai anh chị không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau và có quyền đi lại thăm nom con chung. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm, đề nghị xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn chị Hồ Thị H1 kháng cáo quá hạn nhưng Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã xem xét và có Quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bị đơn chị Hồ Thị H1 nên kháng cáo của chị H1 được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã hỏi ý kiến của các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không nhưng các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Xét kháng cáo của bị đơn chị Hồ Thị H1, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1]. Sau khi xét xử sơ thẩm chị Hồ Thị H1 có các đơn kháng cáo yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm nhưng sau đó chị H1 đã có các đơn kháng cáo không yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm mà chỉ đề nghị xem xét giải quyết về vấn đề người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Hồ Thị H1 tiếp tục khẳng định không yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm, không yêu cầu xem xét về quan hệ hôn nhân nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ xem xét kháng cáo của chị Hồ Thị H1 về vấn đề tranh chấp nuôi con khi ly hôn.

[2.2]. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Xuân T và chị Hồ Thị H1 đều trình bày vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 11/8/2012 và cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 04/01/2017. Nay ly hôn, cả hai anh chị đều xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu. Xét thấy yêu cầu được nuôi con của các đương sự là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, xét thấy từ sau khi vợ chồng sống ly thân (từ tháng 12 năm 2020) đến nay, hai cháu đã ở cùng với anh T và được chăm sóc, phát triển hoàn toàn bình thường, hai cháu B, Đ ở cùng bố và ở cùng nhau đã có sự gắn kết tình cảm cha con, anh em. Tại các đơn trình bày cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, hai cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng bố. Tại đơn kháng cáo, chị H1 trình bày anh T và gia đình anh T không cho chị tiếp xúc, gặp gỡ chăm sóc các con và sau khi kết hôn với người khác, anh T đã giao hai cháu cho ông bà nội trực tiếp nuôi dưỡng nhưng không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Mặt khác, theo các tài liệu, chứng cứ do anh T xuất trình thì cháu Nguyễn Hải Đ đã từng tham gia chương trình học tập, trị liệu cá nhân do bị chậm phát triển nhận thức và ngôn ngữ nên rất cần sự quan tâm hỗ trợ đặc biệt, cần có sự tương tác giữa hai anh em để việc điều trị bệnh tốt hơn. Do đó, việc tách hai cháu ra là không phù hợp, vì lợi ích của các con thì cần giao cả hai cháu cho bố hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Trong khi đó, chị H1 hiện nay lại đang đi làm việc ở xa (làm nhân viên ngân hàng tại Bình Dương) nên nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu của anh T là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của các bên cũng như phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Vì vậy, cần giao cả hai cháu cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng như bản án sơ thẩm thì sẽ ổn định được việc học tập của các cháu cũng như đảm bảo quyền lợi về mọi mặt, tránh sự xáo trộn về mặt tâm lý cho các cháu và phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân - gia đình. Tại cấp phúc thẩm, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của chị Hồ Thị H1 nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3]. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của chị Hồ Thị H1 không được chấp nhận nên chị H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo của chị Hồ Thị H1, giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 01/2022/HNGĐ-ST ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Xuân T và chị Hồ Thị H1.
    2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 11/08/2012 và cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 04/01/2017 cho anh Nguyễn Xuân T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Hồ Thị H1 do anh T không yêu cầu.

    Chị Hồ Thị H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Anh Nguyễn Xuân T cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    1. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Hồ Thị H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị H1 đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0004126 ngày 24/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
  4. Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Diễn Châu;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HNGĐ-PT ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 02/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger