Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HSST

Ngày 05/01/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

*Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Hà.

*Các Hội thẩm nhân dân: - 1. Ông Nguyễn Tất Bẩy.

- 2. Ông Mạc Vương Long.

* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại điểm cầu Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và tại Điểm cầu Trại Tạm giam Công an tỉnh B. Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 148/2023/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2023/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Đặng Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1999, tại: huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi đăng ký NKTT: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Đặng Văn V, sinh năm 1974; Mẹ đẻ: Bùi Thị Hồng L, sinh năm 1980; Họ tên vợ: Vũ Huyền N, sinh năm 2001, trú tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án, Tiền sự: Không

Bị cáo đầu thú, bị tạm giam từ ngày 03/10/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa

- Bị hại: Nguyễn Tiến H, sinh năm 2000; ( Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Văn V1, sinh năm 1990; Vắng mặt.

    Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

  2. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1990; Vắng mặt.

    Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam;

  3. Hoàng Thị Mai H2, sinh năm 1968; Vắng mặt.

    Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

  4. Nguyễn Đăng L1, sinh năm 1972; Vắng mặt.

    Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 26/8/2023, anh Nguyễn Tiến H, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang rủ Đặng Văn Q, sinh năm 1999, trú tại thôn Đ, xã T, huyện L đi uống bia, sau đó Q rủ thêm bạn là anh Lê Văn V1, sinh năm 1990 và anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1990, đều trú tại thôn Đ, xã T, huyện L cùng đi. Khi đi thì Q, anh H1, anh V1 đi bằng xe mô tô của V1, còn anh H đi xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu sơn Vàng – Đen - Trắng, biển kiểm soát 98B1-949.43 (mượn của ông Nguyễn Đăng L1 là bố đẻ của H) đến quán bia ở đầu C thuộc Tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L uống bia. Khoảng 17 giờ 30 cùng ngày thì cả nhóm không uống bia nữa mà rủ nhau đi hát tại quán karaoke Anh K, thuộc Tổ dân phố M, thị trấn C. Do anh H đã trả tiền bia trước đó nên anh V1, anh H1 và Q thống nhất với nhau là tiền hát sẽ cả 03 người cùng chịu. Cả nhóm hát đến khoảng 20 cùng ngày thì anh H bị say bia nên đã ra ngoài ghế Sofa của quán nằm ngủ. Thấy vậy Q, anh V1 và anh H1 không hát nữa mà xuống thanh toán tiền để đi về. Khi thanh toán thì số tiền hát hết 2.180.000 đồng, Q nói không có tiền Vụ và H1 góp được 1.000.000 đồng trả cho chủ quán, còn thiếu số tiền 1.180.000 đồng, Q bảo anh H1 chờ ở đó để Q về lấy tiền trả. Đồng thời Q bảo anh V1 cùng đưa anh H đến nhà nghỉ ngủ, sau đó Q cầm chiếc túi đeo chéo không rõ nhãn mác, màu đen bên trong đựng 01 ví da mẫu ví đứng màu nâu; 01 thẻ ngân hàng B mang tên Nguyễn Tiến H, số 9704180088691845 và chìa khóa xe mô tô của anh H rồi Q lấy chìa khóa xe mô tô trong túi anh H ra đưa cho V1. Vụ điều khiển xe của anh H chở Q và anh H đến nhà nghỉ “Vầng Trăng” thuộc tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang thuê phòng nghỉ. Khi đến nhà nghỉ, Q liên hệ thuê phòng 101,102, sau đó Q đưa anh H vào phòng 101 để anh H nằm ngủ ở đó còn Q và Vụ sang phòng 102. Tại đây Q nảy sinh ý định mang chiếc xe mô tô của anh H đi cầm cố lấy tiền trả tiền phòng hát và lấy tiền đi chơi nên Q nói với anh V1 là lấy tiền trả tiền phòng hát hôm sau sẽ chuộc xe trả H. Anh V1 nói “Tiền đi chơi thiếu thì mày phải chịu”, Q bảo anh V1 kèm Q đi cầm cố xe, mai Q sẽ chuộc xe về trả cho H. Sau đó anh V1 điều khiển xe mô tô của H chở Q xuống nhà nghỉ P, thuộc Tổ dân phố D, thị trấn C, huyện L. Khi đến nơi anh V1 xuống xe đứng ở cửa chờ, còn Q điều khiển xe vào

trong nhà nghỉ gặp bà Hoàng Thị Mai H2, sinh năm 1968, trú tại thôn T, xã T là chủ nhà nghỉ, Q đã thỏa thuận cầm cố chiếc xe mô tô của H cho bà H2 với giá 3.000.000 đồng. Bà H2 đưa cho Q số tiền 3.000.000 đồng, Q để lại xe mô tô của anh H và Căn cước công dân của Q lại, hẹn hôm sau sẽ đến chuộc lại xe. Sau khi cầm cố xe xong, Q gọi xe taxi đến đón Q và anh V1 quay lại quán hát Anh K, Q trả số tiền hát còn thiếu là 1.180.000 đồng, sau đó V1 điều khiển xe mô tô của mình chở anh H1, Q quay lại nhà nghỉ “Vầng T” ngủ tại phòng 102. Tại đây Q đưa cho Vụ 500.000 đồng để trả tiền phòng nghỉ và tiền nước. Cả 03 người ngủ đến 22 giờ thì Q, anh V1, anh H1 trả phòng 102 để đi về, lúc này Q thấy trong túi đeo của H có 250.000 đồng nên Q lấy ra trả tiền phòng nghỉ. Thấy vậy, anh V1 không trả tiền phòng nghỉ nữa và cũng không trả lại số tiền 500.000 đồng cho Q mà nói với Q sẽ trừ vào khoản tiền Q nợ anh V1 từ tháng 3/2023. Sau đó anh V1 điều khiển xe mô tô của anh V1 chở Q, H1 về thôn Đ, xã T. Khoảng 23 giờ cùng ngày, anh H tỉnh dậy phát hiện không thấy xe mô tô đâu nên đã gọi điện và nhắn tin qua zalo cho Q hỏi về chiếc xe, Q nói đã mang xe đi cầm cố lấy tiền rồi còn chiếc túi đeo Q bảo anh H đến lấy về. Anh H yêu cầu Q lấy xe về trả tuy nhiên do tiêu sải hết số tiền trên nên Q không lấy xe về trả cho anh H.

Ngày 27/8/2023, anh Nguyễn Tiến H đã đến gặp bà Hoàng Thị Mai H2 chuộc lại chiếc xe với giá 3.500.000 đồng. Cùng ngày anh H có đơn trình báo Công an huyện L và giao nộp chiếc xe mô tô, giấy đăng ký xe mang tên ông Nguyễn Đăng L1 cho Cơ quan CSĐT Công an huyện L để phục vụ công tác điều tra.

Ngày 30/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang ra Yêu cầu định giá tài sản số 132 đối với chiếc xe mô tô nêu trên. Tại Kết luận định giá tài sản số 130/KL-HĐĐGTS ngày 05/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIRBLADE, màu sơn Vàng Đen T1, số khung 618171, số máy 4295459, dung tích 125, biển kiểm soát 98B1-949.43, sản xuất, lắp giáp tại Việt Nam có giá trị ở thời điểm bị chiếm đoạt là: 16.200.000 đồng (Mười sáu triệu hai trăm nghìn đồng).

Ngày 08/9/2023, bà Hoàng Thị Mai H2 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Đặng Văn Q.

Ngày 03/10/2023, Đặng Văn Q đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Q 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 6S màu hồng, số máy MKR22LL/A; số sê ri DNPQK1ATGRY8, cũ, đã qua sử dụng. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở Q thu giữ: 01 (một) túi đeo chéo không rõ nhãn mác, màu đen, có dây đeo màu đen; 01 ví da mẫu ví đứng màu nâu; 01 thẻ ngân hàng B mang tên Nguyễn Tiến H, số 9704180088691845.

Ngày 03/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L tiến hành xác định hiện trường nơi Q có hành vi trộm cắp xe mô tô tại nhà nghỉ “Vầng Trăng” thuộc Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Ngày 25/10/2023, anh Lê Văn V1 giao nộp số tiền 500.000 đồng là tiền Q đưa cho Vụ để trả nợ trước đó.

Tại bản cáo trạng số: 05/CT- VKS - HS ngày 15 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Đặng Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt bị cáo như sau:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đặng Văn Q từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/10/2023.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điều 584; 585; 689 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Đặng Văn Q phải bồi thường cho anh Nguyễn Tiến H số tiền 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

T2 cho anh Nguyễn Tiến H số tiền 500.000đồng.

Trả cho bị cáo Đặng Văn Q 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 6S màu hồng, số máy MKR22LL/A; số sê ri DNPQK1ATGRY8, cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) Căn cước công dân số [...] của Đặng Văn Q nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

* Án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận đúng hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không có ý kiến gì về kết luận định giá và thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi bị cáo đã thực hiện.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ khẳng định Khoảng 20 giờ ngày 26/8/2023, tại nhà nghỉ “Vầng Trăng” thuộc tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Đặng Văn Q, sinh năm 1999, trú tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIRBLADE, màu sơn Vàng- Đen - Trắng, biển kiểm soát 98B1-949.43 trị giá 16.200.000 đồng và số tiền 250.000 đồng của anh Nguyễn Tiến H, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, sau đó Q mang xe mô tô đi cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân. Ngày 03/10/2023 Q đến Công an huyện L đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an ở địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho người dân trong quản lý tài sản nên phải lên một bản án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; pham tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi bị phát hiện đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị lớn, để đảm bảo tính răng đe giáo dục và phòng ngừa chung, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và cao hơn mức khởi điểm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Đối với anh Lê Văn V1 là người sử dụng xe mô tô của anh H chở Q đi cầm cố, quá trình điều tra xác định anh V1 không được bàn bạc với Q về việc chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh H, khi được Q rủ mang chiếc xe mô tô của anh H đi cầm cố thì anh V1 không hỏi và không biết anh H có đồng ý không, anh V1 chỉ nghĩ trước đó Q đưa anh H vào phòng 101 đã hỏi và được sự đồng ý của anh H. Sau khi cầm cố chiếc xe xong, Q có đưa cho anh V1 500.000 đồng để trả tiền phòng nghỉ và tiền nước uống nhưng sau đó Q lại trả tiền phòng, tiền nước nên anh V1 đã trừ vào số tiền Q nợ trước đó. Do đó không có căn cứ để xử lý anh V1 về tội “Trộm cắp tài sản”, tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Đối với bà Hoàng Thị Mai H2 là người nhận cầm cố chiếc xe mô tô biển số 98B1-949.43 và anh Nguyễn Văn H1 là người đi hát cùng Q, anh V1, anh H, quá trình điều tra xác định khi nhận cầm cố chiếc xe mô tô nêu trên trên bà H2 không biết đó là tài sản do phạm tội mà có; anh H1 không được biết và không được tham gia bàn bạc mang chiếc xe mô tô của anh H đi cầm cố nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không xử lý đối với bà H2, anh H1 là có căn cứ.

[7] Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Đăng L1 đã nhận lại xe mô tô bị trộm cắp không yêu cầu bồi thường gì. Anh Nguyễn Tiến H yêu cầu bị cáo Đặng Văn Q bồi thường tổng số tiền 3.750.000 đồng (Ba triệu bẩy trăm năm mươi nghìn đồng), gồm: 3.500.000 đồng H đã bỏ ra để chuộc lại xe và 250.000 đồng là số tiền Q lấy trong túi đeo màu đen của H để trả tiền nhà nghỉ “Vầng Trăng” cần buộc bị cáo phải trả cho anh H số tiền trên, nhưng được trừ số tiền 500.000đ do La Văn V2 giao nộp, bị cáo còn phải bồi thường cho anh H 3.250.000đồng.

[8] Về vật chứng của vụ án:

+ Ngày 27/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng: Trả lại chiếc xe chiếc xe mô tô biển số 98B1-949.43 và đăng ký xe cho ông Nguyễn Đăng L1; trả lại 01 (một) túi đeo, 01 ví da, 01 thẻ ngân hàng B cho anh Nguyễn Tiến H.

Đối với số vật chứng còn lại: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

+ Đối với số tiền 500.000đ do La Văn V2 giao nộp là tiền do Q trộm cắp xe mà có nên cần trả lại cho anh Nguyễn Tiến H, 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 6S màu hồng, số máy MKR22LL/A; số sê ri DNPQK1ATGRY8, cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) Căn cước công dân số [...] của Đặng Văn Q cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[9] Về án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các Điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo; Người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt bị cáo Đặng Văn Q 13 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/10/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điều 584; 585; 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Đặng Văn Q phải bồi thường cho anh Nguyễn Tiến H số tiền 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

    T2 cho anh Nguyễn Tiến H số tiền 500.000đồng.

    Trả cho bị cáo Đặng Văn Q 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 6S màu hồng, số máy MKR22LL/A; số sê ri DNPQK1ATGRY8, cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) Căn cước công dân số [...] của Đặng Văn Q nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

    Bị cáo Đặng Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm Công an T. Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, người liên quan;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lương Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HSST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 02/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ ngày 26/8/2023, tại nhà nghỉ “Vầng Trăng” thuộc tổ dân phố Lê Hồng Phong, thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, Đặng Văn Quang, sinh năm 1999, trú tại thôn Đức Chính, xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIRBLADE, màu sơn Vàng- Đen - Trắng, biển kiểm soát 98B1-949.43 trị giá 16.200.000 đồng và số tiền 250.000 đồng của anh Nguyễn Tiến Huy, sinh năm 2000, trú tại thôn Thanh An, xã Trù Hựu, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, sau đó Quang mang xe mô tô đi cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger