Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/DS-ST

Ngày: 05/01/2024

V/v tranh chấp hợp đồng thuê tài sản (nhà, đất) và hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Thái;
Bà Đinh Thị Phương Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Mậu - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10 tháng 11 năm 2023 và 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 163/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản (nhà, đất) và hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2023/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2023/QĐST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2023; Thông báo mở lại phiên toà xét xử sơ thẩm số 38/TB-TA ngày 20 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 121/2023/QĐST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 128/2023/QĐST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng E, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. Địa chỉ liên hệ: Lô D, đường số E, khu đô thị T, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).
  • Người đại diện theo uỷ quyền: Chị Trần Tuyết N, sinh năm: 1998. Nơi thường trú: Số H H, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (Theo Văn bản uỷ quyền ngày 15/6/2023) - (Có mặt).
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Hồ Văn T - Công ty L1 - Chi nhánh R, tỉnh Kiên Giang, thuộc đoàn luật sư tỉnh A (Có mặt).
  • - Bị đơn: Anh Danh Minh V, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Ấp M, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt ngày 10/11/2023, vắng mặt ngày 05/01/2024).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Danh H, sinh năm: 1971 (Cha của V) - (Vắng mặt).
    2. Bà Thị P, sinh năm: 1976 (Mẹ của V) - (Vắng mặt).
    3. Anh Danh Minh S, sinh năm: 1993 (Anh của V) - (Có mặt ngày 10/11/2023, vắng mặt ngày 05/01/2023).

    Cùng địa chỉ: Ấp M, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/4/2023, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 07/8/2023, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng E và người đại diện theo ủy quyền là chị Trần Tuyết N trình bày:

Qua môi giới, anh Hoàng E được biết anh Danh Minh V có nhu cầu chuyển nhượng phần đất diện tích 360m² thuộc thửa đất số 31; 31-a, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại ấp M, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 427258, đất có nguồn gốc do ông Danh Hoàng t cho anh V vào năm 2016.

Sau khi anh V chuyển nhượng cho anh Hoàng E, do anh V có nhu cầu thuê lại toàn bộ phần diện tích đất trên để làm mặt bằng kinh doanh và để ở, nên anh Hoàng E và anh V có thỏa thuận lập Hợp đồng thuê nhà và đất.

Ngày 24/6/2021, tại Phòng C, anh Hoàng E và anh V ký kết Hợp đồng thuê nhà và đất đối với phần đất có diện tích 360m² nêu trên, thời hạn thuê là 06 tháng tính từ ngày ký hợp đồng, tiền thuê là 36.000.000 đồng/01 tháng trả vào ngày 24 hàng tháng, mục đích thuê để ở và kinh doanh. Sau khi ký kết hợp đồng, thời gian 02 tháng đầu tiên anh V thanh toán đầy đủ cho anh Hoàng E số tiền theo thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng sau đó anh V không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho anh Hoàng E thêm lần nào nữa.

Do trước đây, anh Hoàng E với anh V có thỏa thuận miệng là khi lập Hợp đồng chuyển nhượng có công chứng thì anh Hoàng E cho thời gian để anh V mua lại thửa đất trên trong thời hạn 06 tháng, nên anh Hoàng E chưa sang tên. Tuy nhiên, qua thời hạn 06 tháng không thấy anh V chuộc lại đất, nên anh Hoàng E đã nộp Hợp đồng chuyển nhượng, giấy đất vào bộ phận một cửa của Ủy ban nhân dân huyện H để làm thủ tục sang tên và đến ngày 05/4/2022, anh Hoàng E được Chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất đai huyện H cập nhật biến động sang tên thửa đất trên cho anh Hoàng E.

Tuy nhiên, nếu ông V có nhu cầu chuộc lại phần diện tích đất trên để tiếp tục sinh sống, làm ăn, thì anh Hoàng E cũng đồng ý cho ông V chuộc lại phần diện tích đất trên với giá 720.000.000 đồng, phải bồi thường cho anh Hoàng E số tiền 372.744.000 đồng tương đương với lãi suất không kỳ hạn theo quy định pháp luật tính từ thời điểm tháng 6 năm 2021 đến khi xét xử và anh Hoàng E sẽ hỗ trợ làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ông V theo quy định, đồng thời anh V phải chịu các khoản chi phí chỉnh lý, biến động quyền sử dụng đất nêu trên. Trường hợp anh V không đồng ý chuộc lại đất, thì anh Hoàng E yêu cầu anh V phải trả số tiền thuê đất 684.000.000 đồng, buộc di dời toàn bộ công trình, vật kiến trúc có trên đất và giao lại phần diện tích đất trên cho anh Hoàng E quản lý sử dụng.

Do đó, anh Hoàng E yêu cầu Toà án giải quyết các yêu cầu sau:

  • Buộc anh Danh Minh V trả cho anh Nguyễn Hoàng E số tiền chuộc đất là 720.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại cho anh Hoàng E theo mức lãi suất theo quy định của pháp luật là 20%/năm trên số tiền gốc 720.000.000 đồng từ ngày 24/6/2021 đến khi thanh toán xong cho anh Nguyễn Hoàng E.

Bên anh Nguyễn Hoàng E từ trước đến nay chỉ nhận được số tiền 46.000.000 đồng, từ phía anh Danh Minh V. Cụ thể nhận hai lần, lần 1: nhận 36.000.000 đồng ngay ngày ký hợp đồng thuê nhà và đất; lần 2 nhận được 10.000.000 đồng, nhưng không nhớ rõ thời gian.

Anh Nguyễn Hoàng E đồng ý cấn trừ số tiền đã nhận 46.000.000 đồng vào số tiền tiền lãi phát sinh. Phần tiền lãi và gốc còn lại thanh toán đủ cho anh Hoàng E. Khi anh Danh Minh V thực hiện việc trả đủ số tiền gốc và lãi, sau khi trừ số tiền 46.000.000 đồng, thì anh Hoàng E sẽ tự nguyện làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho anh V theo quy định, khi anh V có nhu cầu. Phí và lệ phí chuyển nhượng đất lại cho anh V, do anh V chịu.

Bị đơn anh Danh Minh V trình bày:

Anh thừa nhận vay của anh Nguyễn Hoàng E số tiền 720.000.000 đồng với lãi suất 5%/tháng (tương đương 100.000.000 đồng, mỗi tháng đóng lãi 5.000.000 đồng), nên số tiền lãi mỗi tháng là 36.000.000 đồng, tương đương với tiền thỏa thuận theo hợp đồng thuê nhà và đất ngày 24/6/2021. Khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng xong, anh Hoàng E chỉ giao cho anh số tiền 665.000.000 đồng, do đã trừ trước 01 tháng tiền lãi.

Thời gian sau, mẹ anh (Thị P) có điện thoại cho anh Hoàng E và giao thêm số tiền 10.000.000 đồng cho anh Lâm Hưng L.

Thời gian trước Tết Nguyên đán, anh Hoàng E có điện cho mẹ anh đòi tiền lãi, nên anh có chạy ra đầu đường gần Cầu V đưa cho anh Lâm Hưng L với số tiền 50.000.000 đồng, anh L nói nhận tiền này giao cho anh Hoàng E. Tuy nhiên, không có chứng cứ chứng minh.

Anh đồng ý trả số tiền vay gốc cho anh Hoàng E 720.000.000 đồng, đồng ý tính lãi theo quy định của pháp luật, từ ngày vay tiền 24/6/2021 đến nay, đồng thời cấn trừ số tiền anh đã trả cho anh Hoàng E là 96.000.000 đồng.

Anh xin nguyên đơn giảm bớt một phần lãi, do hiện nay kinh doanh quán không hiệu quả. Về phương án trả nợ, anh xin trả mỗi tháng 10.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong nợ cho anh Hoàng E.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thị P trình bày:

Khi nhận các Thông báo của Toà, bà đều Thông báo cho các thành viên trong gia đình biết, nhưng do phải đi làm, nên không có mặt tại Toà án được. Do khi đi vay tiền, bà có đi cùng với con là Danh Minh V và các lần trả tiền, bà đều biết, nên khi khởi kiện ra Tòa, bà đã trao đổi lại các thành viên trong gia đình, thì thừa nhận vay của anh Nguyễn Hoàng E số tiền 720.000.000 đồng với lãi suất 5%/ tháng (tương đương 100.000.000 đồng, mỗi tháng đóng lãi 5.000.000 đồng). Khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng xong, anh Hoàng E chỉ giao cho anh V và bà số tiền 665.000.000 đồng, khi đã trừ trước 01 tháng tiền lãi.

Thời gian sau, bà Thị P có điện thoại cho anh Hoàng E và giao số tiền 10.000.000 đồng.

Đối với số tiền 50.000.000 đồng đã giao cho anh Lâm Hưng L, anh L nói nhận tiền này giao cho anh Hoàng E. Tuy nhiên, không có chứng cứ chứng minh, nên bà xin rút lại trình bày này. Việc giao tiền với anh Lâm Hưng L, thì gia đình bà sẽ tự giải quyết với anh L.

Gia đình bà đồng ý trả số tiền vay gốc cho anh Hoàng E 720.000.000 đồng, đồng ý tính lãi theo quy định của pháp luật là 20%/năm, từ ngày vay tiền 24/6/2021 đến nay, đồng thời cấn trừ số tiền gia đình bà đã trả cho anh Hoàng E là 46.000.000 đồng.

Gia đình bà xin nguyên đơn giảm bớt một phần lãi, do hiện nay kinh doanh quán không hiệu quả. Về phương án trả nợ, gia đình bà xin trả mỗi tháng 10.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong nợ cho anh Hoàng E.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Danh H và anh Danh Minh S: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho ông Danh H, anh Danh Minh S, người nhận là bà Thị P, anh Danh Minh V, nhưng ông H và anh S đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông H và anh S đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Đề nghị HĐXX tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/6/2021, hợp đồng thuê nhà và đất ngày 24/6/2021 giữa anh Nguyễn Hoàng E với anh Danh Minh V là vô hiệu. Huỷ chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho anh Nguyễn Hoàng E ngày 05/4/2022 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 427258 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 29/6/2007 cho ông Danh H. Buộc anh Danh Minh V phải trả số tiền 720.000.000 đồng, sau khi trừ tiền lãi thừa của tháng đầu tiên vào tiền gốc (lãi suất 01 tháng là 12.000.000 đồng, trong khi anh V trả lãi đầu tiền là 36.000.000 đồng, nên còn dư ra 24.0000.000 đồng), số tiền gốc còn 696.000.000 đồng (720.000.000 đồng - 24.000.000 đồng) và yêu cầu tính lãi từ ngày 24/7/2021 đến ngày xét xử 05/01/2024 là 29 tháng 11 ngày (nhưng yêu cầu tính tròn 29 tháng) với lãi suất 20%/ năm là 336.400.000 đồng. Tổng cộng là 1.032.400.000 đồng - số tiền lãi anh V đã trả tháng thứ 02 là 10.000.000 đồng, còn lại là 1.022.400.000 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi kể từ ngày 06/01/2024 trên số nợ gốc theo mức lãi suất quy định của pháp luật cho đến khi thanh toán xong nợ cho anh Hoàng E.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Trần Tuyết N: Thống nhất với trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, không trình bày gì thêm.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX) và việc chấp hành pháp luật của các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, thu thập chứng cứ đủ cơ sở để đưa vụ án ra xem xét giải quyết.

Về hướng đề nghị giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Danh Minh V phải nộp tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà HĐXX nhận định vụ án này như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện, anh Nguyễn Hoàng E yêu cầu anh Danh Minh V phải trả tiền theo hợp đồng thuê nhà, đất ngày 24/6/2021. Đến ngày 07/8/2023 có đơn thay đổi khởi kiện, quá trình tố tụng tại Toà vẫn giữ nguyên yêu cầu anh V phải trả lại tiền vay và lãi suất theo quy định của pháp luật, nên quan hệ tranh chấp của vụ án là tranh chấp “Hợp đồng thuê tài sản (nhà, đất) và hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015.

Bị đơn anh Danh Minh V có địa chỉ nơi cư trú tại ấp M, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, đểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Danh Minh V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Danh H, bà Thị P, anh Danh Minh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt, nên HĐXX căn cứ quy định tại khoản 1 và 3 Điều 228 BLTTDS 2015, vẫn tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt các đương sự tại phiên tòa.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/6/2021.

Nguyên đơn cho rằng vào ngày 24/6/2021 giữa anh Nguyễn Hoàng E với anh Danh Minh V có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 360m² thuộc thửa đất 31, 31a, tờ bản đồ số 4, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 427258 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/6/2007 cho ông Danh H, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H chỉnh lý biến động tặng cho anh Danh Minh V ngày 16/9/2016. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, thì cùng ngày 24/6/2021, giữa anh Nguyễn Hoàng E với anh Danh Minh V thỏa thuận và ký hợp đồng thuê nhà và đất đối với thửa đất nêu trên với giá 36.000.000 đồng/tháng.

Tuy nhiên, bị đơn anh Danh Minh V chỉ thừa nhận vay của anh Nguyễn Hoàng E số tiền 720.000.000 đồng với lãi suất 5%/tháng (tương đương 100.000.000 đồng, mỗi tháng đóng lãi 5.000.000 đồng), nên số tiền lãi mỗi tháng trên số tiền vay gốc 720.000.000 đồng là 36.000.000 đồng, tương đương với tiền thỏa thuận theo hợp đồng thuê nhà và đất ngày 24/6/2021. Khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng xong, anh Hoàng E chỉ giao cho anh Danh Minh V số tiền 665.000.000 đồng, do đã trừ trước một tháng tiền lãi.

Đối với phần đất diện tích anh Hoàng E nhận chuyển nhượng nêu trên có căn nhà do gia đình anh V đang sinh sống cùng với cha mẹ là ông Danh H, bà Thị P, người anh tên Danh Minh S cùng các công trình xây dựng, cây trồng trên đất để kinh doanh quán nhậu, nhưng không có văn bản nào thể hiện việc anh Hoàng E nhận chuyển nhượng các công trình xây dựng, cây trồng. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại ký hợp đồng thuê nhà và đất là có sự mâu thuẫn.

Do vậy, căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, có căn cứ xác định giao dịch giữa các đương sự là vay tài sản. Việc các bên lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà và đất ngày 24/6/2021 đối với phần đất đã chuyển nhượng là nhằm che giấu hợp đồng vay và số tiền cho thuê lại nhà, đất là số tiền lãi của hợp đồng vay tài sản.

Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/6/2021 giữa các đương sự là hợp đồng giả tạo, nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản, nên đã vô hiệu ngay tại thời điểm các bên xác lập giao dịch theo quy định tại Điều 122, Điều 123, khoản 1 Điều 124 của Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015. Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp đồng chính vô hiệu, nên dẫn đến hợp đồng phụ là hợp đồng thuê nhà và đất là từ tài sản của hợp đồng chính, cũng bị vô hiệu theo quy định tại khoản 4 Điều 402 BLDS 2015.

Các bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/6/2023 nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản, nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 124 của BLDS 2015, thì hợp đồng vay tài sản giữa các bên vẫn có hiệu lực.

[3.2] Đối với yêu cầu HĐXX buộc anh Danh Minh V phải trả số tiền 720.000.000 đồng, sau khi trừ tiền lãi thừa của tháng đầu tiên vào tiền gốc (lãi suất 01 tháng là 12.000.000 đồng, trong khi anh V trả lãi đầu tiền là 36.000.000 đồng, nên còn dư ra 24.0000.000 đồng), số tiền gốc còn 696.000.000 đồng (720.000.000 đồng - 24.000.000 đồng) và yêu cầu tính lãi từ ngày 24/7/2021 đến ngày xét xử 05/01/2024 là 29 tháng 11 ngày (nhưng yêu cầu tính tròn 29 tháng) với lãi suất 20%/ năm là 336.400.000 đồng. Tổng cộng là 1.032.400.000 đồng - số tiền lãi anh V đã trả tháng thứ 02 là 10.000.000 đồng, còn lại là 1.022.400.000 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi kể từ ngày 06/01/2024 trên số nợ gốc theo mức lãi suất quy định của pháp luật cho đến khi thanh toán xong nợ cho anh Hoàng E.

[3.2.1] Xét yêu cầu này của nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng E thấy rằng: Tại phiên hoà giải ngày 14/8/2023 và tại phiên toà ngày 10/11/2023, anh V đồng ý trả số tiền vay gốc cho anh Hoàng E 720.000.000 đồng, đồng ý tính lãi theo quy định của pháp luật là 20%/năm, từ ngày vay tiền 24/6/2021 đến nay, đồng thời cấn trừ số tiền gia đình anh đã trả cho anh Hoàng E là 96.000.000 đồng (bao gồm tiền giao cho anh Hoàng E 46.000.000 đồng và tiền giao cho anh Lâm Hưng L 50.000.000 đồng, vì cho rằng anh L là người mà anh Hoàng E kêu đến nhận tiền của gia đình anh).

Đối với số tiền gia đình anh V giao cho anh Hoàng E 46.000.000 đồng, việc này được anh Hoàng E thừa nhận. Nên đây là các tình tiết được các bên đương sự thừa nhận, nên không cần phải chứng minh và được xem là chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, HĐXX có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Đối với số tiền anh V giao cho anh Lâm Hưng L 50.000.000 đồng, để anh L giao cho anh Hoàng E, việc này không được anh Hoàng E thừa nhận. Tại buổi hoà giải ngày 06/10/2023 (BL 49), mặc dù hôm đó không có mặt ông H, anh V, anh S, nhưng bà Thị P (mẹ của anh V, anh S) đã điện thoại cho các con (Vàng, S), có sự chứng kiến của Cán bộ Toà án và được phản hồi có giao tiền cho anh L, còn việc anh L có giao tiền cho anh Hoàng E không, thì không nắm được. Nên bà P đã trình bày số tiền 50.000.000 đồng này, gia đình bà sẽ tự giải quyết với anh Lâm Hưng L.

Tại phiên toà ngày 10/11/2023, anh V, anh S lại tiếp tục trình bày đã giao cho anh Lâm Hưng L 50.000.000 đồng, nên yêu cầu anh Hoàng E cấn trừ số tiền này. Đồng thời, yêu cầu HĐXX cho gia đình anh 10 ngày để yêu cầu anh L có mặt tại Toà để làm việc. HĐXX tạm ngừng phiên toà để cho đương sự cung cấp, đồng thời đã ban hành Thông báo số 12/TB-TA ngày 10/11/2023 yêu cầu gia đình anh V trong thời gian 10 ngày kể từ ngày nhận Thông báo phải cung cấp họ tên, địa chỉ, số điện thoại kèm theo (nếu có) cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo việc anh V đã đưa số tiền 50.000.000 đồng cho anh Lâm Hưng L để anh L giao cho anh Hoàng E hoặc phải đưa anh Lâm Hưng L có mặt tại Toà án, để Toà án làm rõ về số tiền này. Nhưng đến hết thời gian theo Thông báo, gia đình anh V vẫn không cung cấp được, nên phải gánh chịu hậu quả do không chứng minh được theo quy định tại khoản 1 Điều 91 BLTTDS 2015. Do vậy, không có cơ sở để chấp nhận việc gia đình anh V yêu cầu anh Hoàng E cấn trừ số tiền 50.000.000 đồng đã giao cho anh Lâm Hưng L. Nếu có chứng cứ đã giao tiền cho anh L, thì gia đình anh V khởi kiện anh L thành vụ án khác.

[3.2.2] Đối với yêu cầu của anh V về việc giảm bớt một phần lãi, do hiện nay kinh doanh quán không hiệu quả. Về phương án trả nợ, gia đình anh xin trả mỗi tháng 10.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong nợ cho anh Hoàng E.

Tuy nhiên, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng E là chị Trần Tuyết N không đồng ý với yêu cầu xin một phần tiền lãi và mỗi tháng trả 10.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong nợ cho anh Hoàng E, mà yêu cầu anh V phải có nghĩa vụ trả lại một lần số tiền nợ vay. Theo quy định tại mục 1 phần III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ T1 hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản có quy định: Tòa án không ấn định trong bản án, quyết định thời điểm hoặc thời hạn bên có nghĩa vụ thi hành án, nên HĐXX không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu này của anh V. Tuy nhiên, anh V thật sự có khó khăn về kinh tế thì có thể làm đơn yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Do đó, trong quá trình nghị án và thảo luận, HĐXX có cơ sở chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà, chấp nhận đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và yêu cầu khởi kiện nguyên đơn.

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/6/2021; Hợp đồng thuê nhà và đất ngày 24/6/2021 giữa anh Nguyễn Hoàng E với anh Danh Minh V là vô hiệu. Buộc anh Danh Minh V phải trả cho anh Nguyễn Hoàng E số tiền 1.022.400.000 đồng và phải tiếp tục chịu lãi từ ngày 06/01/2024 theo mức lãi suất theo quy định của pháp luật trên số tiền gốc chưa trả cho đến khi thanh toán xong nợ cho anh Nguyễn Hoàng E.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 26, Điều 47, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị đơn anh Danh Minh V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 1.022.400.000 đồng buộc phải trả cho anh Nguyễn Hoàng E là 42.672.000 đồng.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng E.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, khoản 1 và 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 122, Điều 123, khoản 1 Điều 124, khoản 4 Điều 402, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 26, Điều 47, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/6/2021, hợp đồng thuê nhà và đất ngày 24/6/2021 giữa anh Nguyễn Hoàng E với anh Danh Minh V đối với diện tích đất 360m² thuộc thửa đất 31, 31a, tờ bản đồ số 4, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 427258 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/6/2007 cho ông Danh H, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H chỉnh lý biến động tặng cho anh Danh Minh V ngày 16/9/2016 và hợp đồng thuê nhà và đất ngày 24/6/2021 là vô hiệu.
  2. Buộc anh Nguyễn Hoàng E có nghĩa vụ giao trả cho anh Danh Minh V một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 427258 thuộc thửa đất 31, 31a, tờ bản đồ số 4, diện tích 360m² do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/6/2007 cho ông Danh H, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H chỉnh lý biến động tặng cho anh Danh Minh V ngày 16/9/2016.

    Trường hợp, anh Nguyễn Hoàng E không giao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho anh Danh Minh V, thì anh Danh Minh V có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền thu hồi và hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này, để đăng ký cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  3. Buộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tỉnh Kiên Giang tiến hành các thủ tục huỷ biến động chuyển nhượng cho anh Nguyễn Hoàng E ngày 05/4/2022 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 427258 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 29/6/2007 cho ông Danh H. Các khoản phí, lệ phí chuyển quyền do anh Danh Minh V phải chịu theo quy định của pháp luật.
  4. Buộc anh Danh Minh V phải trả cho anh Nguyễn Hoàng E số tiền 1.022.400.000đ (Một tỷ không trăm hai mươi triệu bốn trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Buộc anh Danh Minh V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 42.672.000đ (Bốn mươi hai triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
    • Hoàn trả cho anh Nguyễn Hoàng E số tiền tạm ứng án phí đã nộp 16.280.000đ (Mười sáu triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009854 ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (Do Trần Tuyết N nộp thay).
  6. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo theo hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/01/2024); Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thì được quyền kháng cáo Bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - Chi cục THADS huyện Hòn Đất;
  • - Chi nhánh VPĐKĐĐ Hòn Đất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Nguyễn Thanh H1

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2023/DS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản (nhà, đất) và hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 02/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng thuê tài sản (nhà, đất) và hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng E kiện Danh Minh V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger