Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05/01/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Đô
  2. Ông Nguyễn Công Tân

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc-Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Vi Đặng Khoa - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 285/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2023/QĐXX ST- HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1996 - Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Nơi thường trú: Thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

Chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã Q, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1995 – Vắng mặt có đơn đề nghị xts xử vắng mặt.

Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Trần Thị N vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung đề ngày 31/7/2023; bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn V kết hôn với nhau ngày 01/03/2016 trước khi kết hôn vợ chồng có được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại trụ sở Ủy Ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh V làm dâu ngay và sống chung cùng gia đình nhà anh V. Quá trình chung sống vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh V thường xuyên bỏ nhà đi không rõ lý do, có thời gian anh V bỏ đi hai tháng không về nhà. Từ năm 2021 vợ chồng vẫn ở chung nhưng đã ly thân do hai vợ chồng không ai nói chuyện với ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh V không còn, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn V.

Về con chung: Chị xác định vợ chồng có một con chung là Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 23/11/2017. Hiện nay con chung đang ở với chị, ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung. Chị không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ, nhà ở, quyền sử dụng đất và các quan hệ khác: Chị xác định vợ chồng không có. Ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn V vắng mặt tại phiên tòa nhung có lời khai trình bày:

Anh và chị N có được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại trụ sở Ủy Ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị N về nhà anh làm dâu ngay và sống chung cùng gia đình nhà anh V. Quá trình chung sống vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do chị N đi nước ngoài đến năm 2021 về nước. Từ khi về nước đến nay thì hai vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị N không còn, chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh xác định vợ chồng có một con chung là Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 23/11/2017. Hiện nay con chung đang ở với chị N. Ly hôn chị N đề nghị được nuôi dưỡng con chung anh đồng ý. Chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung anh đồng ý.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ, nhà ở, quyền sử dụng đất và các quan hệ khác: Anh xác định vợ chồng không có. Ly hôn anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 227; Điều 271; Điều 273; của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn V.

Về con chung: Giao cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng một con chung là Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 23/11/2017.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N cho đến khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Buộc chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự được biết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Trần Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn anh Nguyễn Văn V có nơi cư trú tại thôn C, xã M, huyện H được Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết. Do vậy, xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Trần Thị N, bị đơn anh Nguyễn Văn V đã được Tòa án giao các Thông báo tố tụng và có lời khai trình bày, đồng thời cả hai bên đương sựu đều có đơn xin vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thực hiện phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 207; Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự. Do các bên đương sự đều không đến để Tòa án tiền hành hòa giải do vậy Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên Tòa hôm nay các đương sự đều đề nghị xét xử vắng mặt Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị N, anh V là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2].Về quan hệ hôn nhân:

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị N và anh V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H được, vào sổ đăng ký kết hôn ngày 01/03/2016 nên xác định là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.Trong quá trình chung sống chị N và anh V có mâu thuẫn, anh chị đều xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên không còn tình cảm.

Vì vậy chị N đề nghị Tòa án giải quyết xin ly hôn với anh V và anh V đồng ý ly hôn với chị N.

Hội đồng xét xử xét thấy cả chị N và anh V đều không có nguyện vọng tiếp tục chung sống, mâu thuẫn hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên cần chấp nhận thỏa thuận giữa chị N và anh V theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình là có căn cứ.

[3]. Về con chung: Chị N và anh V cùng xác địnhvợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 23/11/2017. Hiện nay con chung đang ở với chị N. Ly hôn cả chị N đề nghị nuôi con, anh V đồng ý để chị N nuôi con.

Do vậy cần căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung cho chị N nuôi là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét là có căn cứ.

[4]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ, nhà ở, quyền sử dụng đất, ruộng đất và các quan hệ khác: Chị N và anh V cùng xác định vợ chồng không có không yêu cầu Tòa án giải quyết cho nên Hội đồng xét xử không xem xét là có căn cứ.

[5]. Về án phí: Chị Trần Thi N1 không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.

[6]. Về quyền kháng cáo: Chị N1, anh V được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35; Điều 147, Điều 227; 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.
  • Về con chung: Giao cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi con chung cháu Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 23/11/2017.

Sau khi ly hôn anh V có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.

Trong trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc cá nhân, tổ chức được quy định khoản 5 Điều 84 – Luật Hôn nhân gia đinh năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  • Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Về án phí: Chị N phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000266 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác định chị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Hiệp Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Mai Trung, huyện Hiệp Hòa;
  • - Lưu: HS+VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 02/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Nhung - Nguyễn Văn Vũ ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger