|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ D, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/DS-ST Ngày 05 – 01 – 2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ D, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Thanh Phong
- Ông Nguyễn Hoài Phong
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 729/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 442/2023/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Bé T, sinh năm 1967; Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Nơi sinh sống hiện tại: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);
-
- Bị đơn:
- + Ông Nguyễn Minh N, sinh năm 1976; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);
- + Bà Trần Hồng T1, sinh năm 1978; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Tạ Hoàng C, sinh năm 1960; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- + Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1976; Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Nguyễn Bé T trình bày:
Năm 2016, ông N và bà T1 hỏi mượn của bà T số tiền 109.500.000 đồng và 22 chỉ vàng 24k. Ngoài ra, ông N và bà T1 còn nhờ bà T hỏi vay của bà Nguyễn Thị T2 số tiền 50.000.000 đồng, tổng số tiền yêu cầu là 159.500.000 đồng và 22 chỉ vàng 24k. Tuy nhiên, số tiền và vàng này do làm đơn khởi kiện nhầm, bà xác định số tiền ông N và bà T1 nợ 119.500.000 đồng và 50.000.000 đồng vay dùm của bà T2, tổng số tiền là 169.500.000 đồng và 29 chỉ vàng 24k. Ngoài Bản án số 03/2021/HNGĐ-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, hai biên nhận cung cấp cho Tòa án thì bà T không còn chứng cứ nào khác. Đối với khoản vay của bà T2 thì bà T đã xuất tiền ra trả cho bà T2 xong. Đồng thời bà xác định khoản nợ này là tài sản chung của bà và ông Tạ Hoàng C.
Nay bà yêu cầu ông N và bà T1 mỗi người có trách nhiệm trả ½ số nợ 169.500.000 đồng và 29 chỉ vàng 24k cho bà và ông C, không yêu cầu tính lãi suất.
* Ông Nguyễn Minh N trình bày:
Ông xác định việc bà T khởi kiện là đúng, bà T1 trực tiếp mượn tiền vàng của bà T nhiều lần. Đây là nợ chung của ông và bà T1 nên ông đồng ý ông và bà T1 có trách nhiệm trả ½ nợ cho bà T và ông C.
* Ông Tạ Hoàng C trình bày:
Ông thống nhất yêu cầu khởi kiện của bà T, ông xác định phần nợ này là tài sản chung của ông và bà T. Nay ông xác định đây là nợ chung của ông N và bà T1 nên yêu cầu ông N và bà T1 có trách nhiệm trả ½ nợ cho ông và bà T.
* Đối với bà Nguyễn Thị T2, bà Trần Hồng T1:
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà T2, bà T1 biết về yêu cầu khởi kiện của bà T nhưng bà T2, bà T1 không có ý kiến hay yêu cầu gì và không tham gia hòa giải, xét xử tại Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Tạ Hoàng C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bà Trần Hồng T1, bà Nguyễn Thị T2 đã được Tòa án triệu tập tham gia xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Bà T khởi kiện yêu cầu ông N, bà T1 trả lại số tiền và vàng đã cho mượn. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tranh chấp hợp đồng dân sự cụ thể hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Xét nội dung vụ án thấy rằng:
2
[3.1.] Bà T khởi kiện yêu cầu ông N và bà T1 có trách nhiệm trả số tiền 159.500.000 đồng và 22 chỉ vàng 24k, sau đó khởi kiện bổ sung tổng số tiền là 169.500.000 đồng và 29 chỉ vàng 24k. Bà T và ông N thừa nhận ông N và bà T1 có nợ bà T số nợ trên căn cứ vào biên nhận nợ bà T cung cấp (BL 01, 02). Tuy nhiên, cả hai biên nhận đều không đề ngày tháng năm và nội dung đều thể hiện giống nhau ở phần người nhận nợ có chữ ký viết tên Nguyễn Minh N như sau: “Tôi Nguyễn Minh N có nhận nợ với số tiền 159.000.000 với 29 chỉ vàng 24k là đúng sự thật.” và: “Đúng vào năm 2016. Vợ chồng tôi là Nguyễn Minh N và vợ là Trần Hồng T1 có nhờ bà Nguyễn Bé T mượn dùm chỗ chị 7 Phum, mượn số tiền tổng cộng 50.000.000 đồng”. Hai biên nhận đều không có chữ ký viết tên của bà Trần Hồng T1, đồng thời ông N và bà T đều thừa nhận hai biên nhận viết vào thời gian sau khi ông N và bà T1 ly hôn, phân chia tài sản chung, nợ chung tại Tòa án. Mặt khác, tại Bản án số 03/2021/HNGĐ-PT ngày 03/02/2021, ông N và bà T1 đều xác định nợ chung của vợ chồng, trong đó có khoản nợ của bà T là 109.500.000 đồng và 22 chỉ vàng 24k. Ngoài ra, bà T2 có xác nhận có cho bà T mượn số tiền 50.000.000 đồng do bà T mượn dùm cho ông N và bà T1. Việc xác nhận này không có cơ sở. Bởi lẽ, quá trình giải quyết vụ án, ông N và bà T đều thừa nhận, số tiền này bà T mượn của bà T2 rồi đưa lại cho ông N và bà T1, tại thời điểm ông N và bà T1 ly hôn, ông N hoàn toàn không khai số tiền nợ 50.000.000 đồng này đối với bà T2 hay bà T.
Từ những cơ sở phân tích trên, lời trình bày và yêu cầu của bà T không có cơ sở để chấp nhận toàn bộ, bà T và ông N không đưa ra được cơ sở chứng minh ông N và bà T1 có nợ bà T 169.500.000 đồng và 29 chỉ vàng 24k. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T về việc buộc ông N và bà T1 mỗi người có trách nhiệm trả ½ nợ cho bà T đối với khoản nợ 109.500.000 đồng và 22 chỉ vàng 24k. Bà T1 và ông N mỗi người có trách nhiệm trả cho bà T 54.750.000 đồng và 11 chỉ vàng 24k. Đối với số tiền 60.000.000 đồng và 7 chỉ vàng 24k, ông N thừa nhận có nợ bà T nên cần buộc ông N có trách nhiệm trả là đúng theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự.
[3.2.] Đối với khoản nợ bà T mượn dùm của bà T2 50.000.000 đồng, bà T xác định đã xuất tiền ra trả cho bà T2 xong, bà T2 cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì về khoản nợ này, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét khoản nợ này giữa bà T và bà T2 là phù hợp.
[3.3.] Đối với lãi suất: các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét là phù hợp.
[3.4.] Đối với yêu cầu của bà T về việc yêu cầu ông N và bà T1 trả nợ cho vợ chồng bà T và ông C vì xác định đây là tài sản chung của vợ chồng ông C và bà T thấy rằng yêu cầu này của bà T là đúng quy định pháp luật phù hợp với ý kiến của ông C và ông N nên được chấp nhận, cần tuyên buộc trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng ông C và bà T.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
3
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà T không phải chịu án phí, ông N bà T1 phải chịu án phí trên số tiền, vàng phải trả cho nguyên đơn. Bà T1 phải chịu 6.142.000 đồng (122.840.000 đồng x 5%); Ông N phải chịu 11.308.500 đồng (226.170.000 đồng x 5%); Giá vàng tại thời điểm xét xử là 6.190.000 đồng/chỉ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Bé T.
Buộc bà Trần Hồng T1 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Bé T số tiền 54.750.000 đồng (năm mươi bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và 11 chỉ vàng 24k (mười một chỉ vàng hai mươi bốn ka ra).
Buộc ông Nguyễn Minh N có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Bé T số tiền 114.750.000 đồng (một trăm mười bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và 18 chỉ vàng 24k (mười tám chỉ vàng hai mươi bốn ka ra).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Bé T về việc buộc bà Trần Hồng T1 có cùng có nghĩa vụ với ông Nguyễn Minh N trả số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) và 7 chỉ vàng 24k (bảy chỉ vàng hai mươi bốn ka ra).
-
Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Trần Hồng T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 6.142.000 đồng (sáu triệu một trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
- Ông Nguyễn Minh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 11.308.000 đồng (mười một triệu ba trăm lẻ tám nghìn đồng).
- Bà Nguyễn Bé T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Bà T số tiền tạm ứng đã nộp 3.597.000 đồng (ba triệu năm trăm chín mươi bảy nghìn đồng) và 638.000 đồng (sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng) lần lượt theo Biên lai thu số 0000704 ngày 25 tháng 10 năm 2023 và số 0000383 ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
4
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Trúc |
5
Bản án số 02/2024/DS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ D, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 02/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ D, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tám-Thắm, Nhơn
