|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày 04 - 01 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hài
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Bình và ông Lê Hải Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Hà - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại Trung tâm văn hóa thể thao phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 88/2023/ TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2023/ QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn C - Sinh ngày 01/01/1990, tại huyện M, tỉnh Điện Biên;
Nơi đăng ký HKTT: Tổ A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên;
Nơi ở hiện tại: Xóm A Đ, xã M, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ văn hoá (học vấn): 0/12; giới tính: Nam; Con ông: Lò Văn H, sinh năm: 1965 và bà Lò Thị C1, sinh năm: 1969 và Chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 04/5/2012, UBND tỉnh Đ ra quyết định số 348 về việc đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc (Chấp hành xong ngày 07/5/2014).
- - Ngày 28/11/2014, Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Chấp hành xong ngày 28/02/2017).
- - Ngày 30/11/2017, Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Chấp hành xong ngày 27/9/2018).
- - Ngày 10/01/2020, Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính hình thức đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng (Chấp hành xong ngày 04/12/2021).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2023 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên và có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị B, sinh năm 1962 - Luật sư, Cộng tác viên trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chu Đức H1, sinh năm 1971 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã M, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
2. Chu Kim C2, sinh năm 2002 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã M, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
* Người chứng kiến:
- Ông Trần Văn T - Sinh năm 1974 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
- Ông Lê Văn T1 - Sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11h30 ngày 14/10/2023, tổ công tác Công an phường T, thành phố S tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ D, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện đối tượng Lò Văn C đang ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đen, BKS: 20H1 – 564.53 có biểu hiện vi phạm pháp luật, tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính đối với C. Quá trình kiểm tra Lò Văn C tự nguyện giao nộp 02 xi lanh nhựa, 02 ống nước cất (chưa quả sử dụng), 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đ được gấp lại bên trong tờ tiền có 01 gói giấy bạc màu trắng chứa chất bộ màu trắng, C khai nhận là ma túy loại Heroine do C mua về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng, đưa C về trụ sở Công an phường để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn tạm giữ của C 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đen, BKS: 20H1 – 564.53
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trưng cầu giám định số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn C. Tại bản Kết luận giám định số 1212/KL-KTHS ngày 22/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,136 gam.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Lò Văn C khai nhận: Bản thân là người nghiện chất ma tuý (H2) từ khoảng năm 2021 đến nay. Khoảng 10h30, ngày 14/10/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20H1-564.53 đi từ công trường xây dựng tại Khu công nghiệp S thuộc xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực đường dân sinh thuộc phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để mua ma tuý. Khi đến nơi gặp một người phụ nữ đi xe đạp điện, đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang đang dừng ở lề đường, do bị cáo biết người này bán ma tuý nên đã đi đến đưa 200.000đ cho người phụ nữ. Người phụ nữ cầm tiền rồi đưa cho bị cáo 01 gói giấy bạc bên trong có ma túy Heroine. Sau khi mua được ma tuý bị cáo đã đi vào một hiệu thuốc (không nhớ tên) mua 02 chiếc xi lanh nhựa và 02 ống nước cất với giá 15.000đ, làm dụng cụ sử dụng ma tuý. Sau đó, bị cáo lấy tờ tiền mệnh giá 5.000đ bọc bên ngoài gói ma tuý và xi lanh, nước cất giấu trong túi quần bên phải phía trước rồi điều khiển xe tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ dân phố D, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên thì tôi gặp tổ công tác của Công an phường T phát hiện tại túi quần bên phải phía trước của tôi có 02 chiếc xi lanh, 02 ống nước cất, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đ bên trong có 01 gói giấy bạc chứa ma tuý Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,116 gam ma túy loại Heroine cùng vỏ bì niêm phong cũ; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A, 01 gói giấy bạc; 01 bì niêm phong ký hiệu B, bên trong có chứa 02 xi lanh nhựa và 02 ống nước cất chưa quả sử dụng được chuyển bảo quản theo đúng quy trình quản lý vật chứng.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, BKS: 20H1 - 564.53 đã trả lại cho anh Chu Kim C2 (Sinh năm 2002, trú tại: xóm Đ, xã M, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) là chủ sở hữu hợp pháp.
Bản cáo trạng số 01/CT - VKS ngày 19/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lò Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C từ 18 đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,116 gam ma túy loại Heroine cùng vỏ bì niêm phong cũ; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A, 01 gói giấy bạc; 01 bì niêm phong ký hiệu B, bên trong có chứa 02 xi lanh nhựa và 02 ống nước cất chưa quả sử dụng; Tạm giữ số tiền 5.000 đồng thu giữ của bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn C có ý kiến bào chữa: Nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xác định việc truy tố, xét xử đối với bị cáo Lò Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan. Bản thân bị cáo là người có nhân thân không tốt, tuy nhiên xét hoàn cảnh gia đình bị cáo từ nhỏ bố mẹ ly hôn nên phải sống với cụ già, bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật và nhận thức xã hội còn hạn chế, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng, đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo C nhất trí ý kiến của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận bổ sung, bị cáo thừa nhận việc truy tố và xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận, vì đã phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ kết luận:
Bị cáo Lò Văn C là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2021 cho đến nay chưa bỏ được, nên bị cáo thường xuyên đi tìm mua ma túy về sử dụng. Khoảng 10 giờ 30 ngày 14/10/2022, bị cáo đi đến khu vực đường dân sinh thuộc phường B, thành phố P gặp và mua của người phụ nữ không quen biết 01 gói giấy bạc màu trắng (Bị cáo biết là H2) với giá 200.000 đồng. Mua xong, bị cáo cất gói chất bột nàu trắng vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi về đến khu vực đường dân sinh thuộc Tổ dân phố D, phường T, thành phố S thì bị tổ công tác Công an phường T bắt quả tang thu giữ vật chứng là 01 gói chất bột màu trắng nêu trên, qua giám định theo kết luận là Heroine có khối lượng là 0,136 gam.
Xét hành vi mua ma túy và cất giữ ma túy loại Heroine có khối lượng như đã nêu trên với mục đích để sử dụng cho bản thân của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 249 của BLHS quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;
c) Heroine, ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...".
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, hành vi phạm tội của bị cáo còn tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
[5]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của BLHS.
[6]. Xét nhân thân bị cáo thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, đã từng bị áp dụng biện xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và cai nghiện bắt buộc, đã bị xử phạt tù nhiều lần về tội trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội nhằm thoả mãn nhu cầu bản thân, điều đó thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu và coi thường pháp luật. Vì vậy, dù có giảm nhẹ phần nào về hình phạt, cũng cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp để cho bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy cũng như cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[7]. Về hịnh phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hính sự, nhân thân của các bị cáo. HĐXX cần xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù và buộc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo nói riêng đồng thời góp phần ngăn ngừa, đấu tranh đối với tội phạm về ma túy nói chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[8]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS thì người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của BLHS và Điều 106 BLTTHS, xử lý vật chứng vụ án như sau: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định, vỏ bao gói mẫu, xi lanh nhựa và ống nước cất xét thấy đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng thu giữ của bị cáo trong quá trình bắt quả tang, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
[10]. Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS, HĐXX ra quyết định tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo quy định.
[11]. Về nguồn gốc số ma túy đã bị thu giữ, bị cáo C khai mua của một người phụ nữ tại phường B, thành phố P (không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể), nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 20H1-564.53 bị cáo C mượn của ông H3 đi mua ma tuý sử dụng, quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là của anh Chu Kim C2 (con trai ông H3), sinh năm 2002 trú tại Xóm Đ, xã M, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Ông H3 và anh C2 không biết bị cáo C sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý hợp pháp sử dụng là phù hợp, HĐXX không xem xét.
[12]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
[13]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về phần quyền lợi liên quan theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của BLHS; Điều 106, Điều 136 và Điều 329 của BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lò Văn C 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/10/2023. Quyết định tạm giam bị cáo Lò Văn C với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,116 gam ma túy loại Heroine cùng vỏ bì niêm phong cũ; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A, 01 gói giấy bạc; 01 bì niêm phong ký hiệu B, bên trong có chứa 02 xi lanh nhựa và 02 ống nước cất chưa quả sử dụng.
- Tạm giữ số tiền 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) để đảm bảo việc thi hành án.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2023 và giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và Giấy nộp tiền số 9915927 ngày 22/12/2023 tại Ngân hàng TMCP C3 - Chi nhánh N vào tài khoản số 39490.1007371.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
5. Về án phí: Buộc bị cáo Lò Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước. .
6. Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo Lò Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Ngọc Hài |
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của BLHS; Điều 106, Điều 136 và Điều 329 của BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
