Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04-01-2024

“V/v Ly hôn giữa bà Thơ và ông Cường”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Yến
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quang Đông;
  • 2. Ông Phạm Văn Tư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Bé Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 320/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng Anh T, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số H, Đường H, Khóm E, Phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • * Bị đơn: Ông Trần Huy C, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số H, Đường H, Khóm E, Phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/7/2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Anh T trình bày:

Về hôn nhân: Bà T và ông Trần Huy C quen biết nhau, tự tìm hiểu rồi tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 51, quyển số 01 ngày 05/5/2010, tại Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; bà T và ông C sống hạnh phúc đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế, ông C có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác bên ngoài; vợ chồng ông, bà sống ly thân từ năm 2015 đến nay, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn không thể hàn gắn được. Nay, bà T yêu cầu giải quyết cho bà T được ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà T và ông C có một con chung tên Trần Anh K, sinh ngày 21/7/2012, hiện con đang sống với bà T, sau khi ly hôn bà T yêu cầu tiếp tục nuôi con đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con;

Về tài sản chung: Bà T và ông C tự thỏa thuận, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung: Bà T khai trong thời kỳ hôn nhân đến thời điểm xin ly hôn ông, bà không có nợ chung.

* Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng thủ tục tố tụng nhưng ông C vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án tống đạt thủ tục tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật. Do đó, ông C không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; vụ án không tiến hành hòa giải được.

* Tại văn bản ý kiến của con Trần Anh K đề ngày 30/10/2023, Anh Khoa có nguyện vọng được sống chung với bà T, khi bà T và ông C ly hôn.

Tại phiên tòa,

Các đương sự không xuất trình chứng cứ gì mới tại phiên tòa;

Bà T đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên các yêu cầu trong đơn kiện;

Ông C có bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn xin vắng mặt phiên họp kiểm tra việc việc giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải đề ngày 01/12/2023, có nội dung: Về hôn nhân: Ông C thống nhất ly hôn với bà T theo yêu cầu của bà T; đồng ý giao con chung tên Trần Anh K, sinh ngày 21/7/2012 cho bà T tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng; ông C không cấp dưỡng nuôi con; ông và bà T tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông và bà T không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Bà Nguyễn Hoàng Anh T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Trần Huy C, ông C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết. Do đó, đây là vụ án tranh chấp ly hôn được quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, ông C cư trú tại số H, Đường H, Khóm E, Phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.

    Bà T và ông C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

    Hiện nay, bà T và ông C sống ly thân, sau khi phát sinh mâu thuẫn vợ chồng ông, bà không có yêu cầu Cơ quan quản lý Nhà nước về công tác gia đình tại địa phương hòa giải mâu thuẫn tranh chấp của ông, bà; bà T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông C cấp dưỡng; bà T xác định rõ nguyên nhân phát sinh tranh chấp, đã ly thân không hàn gắn được tình cảm vợ chồng; ông C không đến Tòa án để hòa giải đoàn tụ với bà T, có nộp văn bản ý kiến thống nhất ly hôn với bà T; bà T yêu cầu nuôi con, ông C đồng ý giao con cho bà T nuôi dưỡng. Do đó, việc thu thập tài liệu, chứng cứ lấy ý kiến tại địa phương để tham khảo là không cần thiết.

  2. Về nội dung:
    1. Về hôn nhân: Bà T và ông C tự tìm hiểu, tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định do đó quan hệ hôn nhân của ông, bà là hợp pháp. Hội đồng xét xử nhận thấy: Từ khi xảy ra mâu thuẫn bà T đã có thời gian sống ly thân và không còn tình cảm vợ chồng với ông C, quá trình giải quyết cũng như tại đơn xin vắng mặt bà T kiên quyết giữ quan điểm ly hôn; xét thấy, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không còn tôn trọng lẫn nhau, không có tiếng nói chung trong việc xây dựng kinh tế gia đình, bà T đã cho ông C nhiều cơ hội sửa đổi nhưng ông C không thay đổi, mâu thuẫn còn trầm trọng hơn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông C.
    2. Về con chung: Bà T và ông C có một người con chung là Anh K, hiện nay con đang sống với bà T, bà T có nguyện vọng được nuôi con, ông C có ý kiến thống nhất giao con cho bà T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, cháu K có nộp văn bản trình bày ý kiến có nguyện vọng được sống với bà T khi bà T và ông C ly hôn. Do đó, yêu cầu của bà T phù hợp với nguyện vọng của con Anh K và ý kiến giao con của ông C, Hội đồng xét xử xét thấy nên giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi cho con, vấn đề cấp dưỡng bà T không yêu cầu, ông C có ý kiến không cấp dưỡng nên không đặt ra giải quyết.
    3. Về tài sản chung: Bà T và ông C tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết; nợ chung: Bà T, ông C khai trong thời kỳ hôn nhân đến thời điểm ly hôn ông, bà không có nợ chung nên không đặt ra giải quyết.
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn 300.000đồng, ông C không phải nộp án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về nội dung:
    1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Hoàng Anh T và ông Trần Huy C.
    2. Về nuôi con chung: Bà T và ông C có một người con chung là Trần Anh K, sinh ngày 21/7/2012, giao cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng con; ông C không cấp dưỡng nuôi con;

      Sau khi ly hôn ông C có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng ông C không được lạm dụng việc thăm nom để gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con.

    3. Về chia tài sản chung: Không đặt ra giải quyết; nợ chung: Không có.
  2. Về án phí: Bà Nguyễn Hoàng Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đồng đã nộp theo biên lai thu số Nº 0002268 ngày 25/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ sau ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được Bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - THADS TPVL;
  • - VKSND TPVL;
  • - TAND tỉnh VL;
  • - E, TPVL;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Kim Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn

  • Số bản án: 02/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T-C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger