TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày: 04 - 01 -2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Huy Hùng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Quang Định và ông Nguyễn Đức Thủy.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mây - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2023/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2023/HSST-QĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Thị X, tên gọi khác: không có; sinh ngày 20/10/1980 tại huyện H, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: tổ D, khu A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn B (đã chết) và bà Phan Thị X1; chồng: Nguyễn Trung Q và có 03 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2023 đến ngày 05/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng bảo lĩnh, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Bùi Thị P, sinh năm: 1977; địa chỉ: thôn B, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn xin xử án vắng mặt).
- Chị Đỗ Thị H, sinh năm: 1980; địa chỉ: tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, vắng mặt (có đơn xin xử án vắng mặt).
- Anh Hoàng Thanh B1, sinh năm: 1980; địa chỉ: tổ G, khu H, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
* Những người làm chứng:
- Anh Nguyễn Hồng H1, sinh năm: 2000; nơi ĐKHKTT: khu D, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ C, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Anh Phạm Đức P1, sinh năm: 2001, địa chỉ: tổ D, khu E, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
* Những người chứng kiến:
- Ông Phạm Văn K, sinh năm: 1960; địa chỉ: tổ D, khu A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Bà Hoàng Thị L, sinh năm: 1951; địa chỉ: tổ D, khu A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 8 năm 2023, Phan Thị X gặp chị Bùi Thị P và chị Đỗ Thị H tại một quán làm sơn sửa móng chân, móng tay ở khu vực gần nhà nghỉ “Huyền Anh” thuộc tổ D, khu A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Khi nghe các chị nói đang ở U, có ý định bán dâm kiếm tiền để trang trải cuộc sống, do đang trực tiếp quản lý nhà nghỉ “Huyền Anh” của bố chồng là ông Nguyễn Thế H2 nên X đặt vấn đề với chị P và chị H đến bán dâm tại đây, cụ thể: khi có khách nam muốn mua dâm thì X sẽ gọi điện thoại cho chị P và chị H đến nhà nghỉ bán dâm, X sẽ thu của khách 300.000 đồng/người/lượt, khi mua bán dâm xong sẽ chia cho các chị này 150.000 đồng/01 lần bán dâm. Hai chị đều đồng ý.
Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 08/9/2023, X gọi điện thoại cho chị P đến nhà nghỉ để chơi và nếu có khách hỏi thì bán dâm cho khách. Đến khoảng 20 giờ 05 phút cùng ngày, các anh Nguyễn Hồng H1, Phạm Đức P1 và Hoàng Thanh B1 đến nhà nghỉ. Tại đây anh H1 và anh P1 hỏi có gái bán dâm không (anh B1 chỉ đi cùng, không tham gia), X trả lời hiện mới chỉ có một người, để X gọi thêm, sau đó X gọi điện thoại cho chị H đến nhà nghỉ để bán dâm. Khi chị H đến nơi, Xuất báo giá mua dâm với anh H1, anh P1 là 300.000 đồng/người/lượt, các anh đồng ý. Anh H1 đưa cho X 700.000 đồng, X trả lại anh H1 100.000 đồng thì anh H1 cho lại anh B1 để uống nước. Sau đó, X sắp xếp chị P1 bán dâm cho anh H1 tại phòng nghỉ số B, chị H bán dâm cho anh P1 tại phòng nghỉ số 204, còn X ngồi nói chuyện với anh B1 tại phòng khách. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, khi anh H1 và chị P1 đang quan hệ tình dục tại phòng nghỉ số 203, anh P1 và chị H đang quan hệ tình dục tại phòng nghỉ số 204 thì bị Công an thành phố U kiểm tra hành chính, phát hiện lập biên bản. Quá trình kiểm tra còn thu giữ tại phòng số 203: 01 chiếc bao cao su đã qua sử dụng và 01 vỏ bao cao su; tại phòng 204: 01 bao cao su đã qua sử dụng và 01 vỏ bao cao su; tạm giữ của Xuất 01 chiếc túi bằng vải màu đen, bên trong có 1.830.000 đồng, 01 điện thoại di động iPhone 7Plus vỏ màu đen gắn sim số 092.173.9xxx; tạm giữ của chị P1 01 điện thoại di động iPhone 12 vỏ màu xanh tím than gắn sim số 039.450.8xxx, 05 chiếc bao cao su chưa qua sử dụng và số tiền 266.000 đồng; tạm giữ của chị H 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A7 vỏ màu vàng gắn sim số 098.440.2xxx và 01 bao cao su chưa qua sử dụng; tạm giữ của anh B1 100.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, Phan Thị X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Cáo trạng số: 164/CT- VKSQN-P2 ngày 28/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo về tội “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phan Thị X phạm tội: "Chứa mại dâm"; áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Phan Thị X từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường Q, thành phố U giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
-Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có thu nhập ổn định nên đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 03 chiếc điện thoại thu giữ của Phan Thị X, Bùi Thị P, Đỗ Thị H và số tiền: 600.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 03 sim điện thoại thu giữ của bị cáo X, chị P, chị H và 06 bao cao su chưa qua sử dụng; trả lại Phan Thị X 1.230.000 đồng (trong số tiền 1.830.000 đồng thu giữ của bị cáo X); trả lại anh Hoàng Thanh B1 100.000 đồng; đối với 02 bao cao su đã qua sử dụng và 02 vỏ bao cao su, Cơ quan điều tra đã tiêu hủy; số tiền 266.000 đồng tạm giữ của chị P và 01 chiếc túi xách tạm giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định không liên quan đến tội phạm, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên không đề cập.
Bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị P, chị Đỗ Thị H, anh Hoàng Thanh B1, lời khai của những người làm chứng anh Nguyễn Hồng H1, anh Phạm Đức P1 và lời khai của những người chứng kiến ông Phạm Văn K, bà Hoàng Thị L, phù hợp với biên bản kiểm tra hành chính do Đ Công an thành phố U lập hồi 20 giờ 55 phút, ngày 08/9/2023 cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 20 giờ 40 phút ngày 08/9/2023, tại nhà nghỉ “Huyền A” do Phan Thị X trực tiếp quản lý, thuộc tổ D, khu A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, X đã bố trí cho 02 gái bán dâm là Bùi Thị P và Đỗ Thị H bán dâm cho các anh Nguyễn Hồng H1 và Phạm Đức P1 với giá 300.000 đồng/người, thu lợi bất chính 600.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: "Chứa mại dâm" quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về hình phạt chính:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội, là nguyên nhân gây ra mâu thuẫn trong gia đình của những người mua dâm. HĐXX sẽ xem xét, cân nhắc để đưa ra mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
- Tình tiết tăng nặng: không có.
- Tình tiết giảm nhẹ: giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình lại đang mắc bệnh hiểm nghèo (ung thư tuyến giáp) đang phải điều trị tại bệnh viện, có tham gia đóng góp, ủng hộ kinh phí cho địa phương trong công tác phòng, chống đại dịch Covid 19 và nạn nhân chất độc da cam nên bị cáo được hưởng những tình tiết giảm trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng, chấp hành tốt đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của địa phương nơi bị cáo cư trú (có xác nhận của chính quyền địa phương). Vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương để bị cáo có điều kiện chữa bệnh cũng như lao động tìm kiếm thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình cho bị cáo thấy được tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
[3.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 327 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[4] Về hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: Quyết định về việc bảo lĩnh số 12/2023/QĐ-TA và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 134/2023/HSST-QĐ THXC cùng ngày 05/12/2023 đối với bị cáo của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí cần được hủy bỏ.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 03 chiếc điện thoại thu giữ của Phan Thị X, Bùi Thị P, Đỗ Thị H và số tiền: 600.000 đồng là công cụ phạm tội và tiền thu lời bất chính nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước; 03 sim điện thoại thu giữ của bị cáo X, chị P, chị H cùng với 05 chiếc bao cao su chưa qua sử dụng thu giữ của của chị P và 01 bao cao su chưa qua sử dụng thu giữ của của chị H là công cụ phạm tội và là những vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; số tiền 1.830.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong đó có 600.000 đồng là tiền bị cáo thu lời bất chính, số tiền còn lại 1.230.000 đồng của bị cáo và 100.000 đồng thu giữ của anh B1 không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo và anh B1; đối với 02 bao cao su đã qua sử dụng và 02 vỏ bao cao su, Cơ quan điều tra đã tiêu hủy; số tiền 266.000 đồng tạm giữ của chị P và 01 chiếc túi xách tạm giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định không liên quan đến tội phạm, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên không đề cập.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị X phạm tội: “Chứa mại dâm”.
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Phan Thị X 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/01/2024.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố U trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành hình sự án 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- Về Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: Áp dụng khoản 5 Điều 121; khoản 4 Điều 123; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự. Hủy bỏ Quyết định về việc bảo lĩnh số 12/2023/QĐ-TA và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 134/2023/HSST-QĐTHXC cùng ngày 05/12/2023 đối với bị cáo của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 03 điện thoại di động (gồm 01 chiếc iPhone 7Plus, vỏ màu đen thu giữ của bị cáo X; 01 chiếc iPhone 12 vỏ màu xanh thu giữ của chị P; 01 chiếc Samsung Galaxy A7 vỏ màu vàng thu giữ của H) và số tiền: 600.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 03 sim điện thoại số 0921.739.xxx, 039.450.8xxx và 098.440.2xxx và 06 bao cao su chưa qua sử dụng.
Trả lại bị cáo Phan Thị X số tiền 1.230.000 đồng; trả lại anh Hoàng Thanh B1 số tiền 100.000 đồng.
(Toàn bộ số vật chứng, tài sản trên có đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí và Biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản ngày 12/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U với Kho bạc Nhà nước thành phố U, tỉnh Quảng Ninh ).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Huy Hùng (đã ký) |
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH về chứa mại dâm
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị X - Chứa mại dâm
