Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 02/2024/HS-ST

Ngày: 04 - 01 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Rực
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Lưu Văn Có.
    • Ông Đào Thanh Tùng.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Đào Minh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Luân- Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 395/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 379/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M

(tên gọi khác: Lê Hoàng M1); sinh năm 1959 tại Khánh Hòa; ĐKTT: 39 C, phường X, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi ở hiện tại: Sống lang thang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Lê Thị T1, vợ Huỳnh Thị Bích L (chết), có 01 con (chết); tiền án: 01- Bản án số 303/2010/HSST ngày 20/12/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; Bản án số 49/2011/HSPT ngày 15/3/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/9/2011, chưa đóng án phí; tiền sự: Không; nhân thân: Lệnh bắt buộc tập trung lao động số 875/UB ngày 10/8/1988 của UBND tỉnh P thời gian 24 tháng. Án HS-ST số 10 ngày 23/3/1991 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 04 năm tù về tội Hiếp dâm; Án số 09/HS-ST ngày 29/5/1992 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 36 tháng tù về tội Trốn khỏi nơi giam, tổng hợp Án HS-ST số 10/HSST ngày 23/3/1991 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm 04 tháng 12 ngày; Án số 25/HS-ST ngày 27/4/1996 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 06 tháng tù về tội Trốn khỏi nơi giam, tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành của Án số 09/HS-ST ngày 29/5/1992 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh là 24 tháng 02 ngày, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 30 tháng 02 ngày, chấp

hành xong hình phạt tù ngày 11/6/2008. Quyết định số 2464 ngày 24/7/1999 của UBND tỉnh K về việc đưa vào Cơ sở Giáo dục thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 27/7/2001. Bản án số 216/2007/HSST ngày 19/9/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/3/2008. Bản án số 78/2012/HSST ngày 18/4/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2012. Bản án số 247/2015/HSST ngày 27/11/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/6/2015. Bản án số 65/2020/HSST ngày 05/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; Bản án số 59/2020/HS-PT ngày 23/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/02/2021; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/7/2023 đến ngày 31/7/2023, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2023. Có mặt.

- Bị hại.

  • + C- sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện K, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • + Hồ Hoàng H- sinh ngày 31/01/2010; địa chỉ: D N, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • + Phù Xuân L1- sinh ngày 19/02/2010; địa chỉ: H B, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • + Lê Thị B- sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn V, S, S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Đại diện hợp pháp của bị hại:

  • + Đại diện hợp pháp của bị hại Hồ Hoàng H: Hồ Sĩ Đ- sinh năm 1980 (bố đẻ); địa chỉ: D N, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • + Đại diện hợp pháp của bị hại Phù Xuân L1: Phù Thành V- sinh năm 1977 (bố đẻ); địa chỉ: H B, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Đinh Hoàng H1- sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ A N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • + Nguyễn Trí T2- sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • + Nguyễn Minh Đ1- sinh năm 1996; địa chỉ: 4 L, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • + Võ Thị N- sinh năm 1989; địa chỉ: Chung cư H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn M sau khi chấp hành hình phạt tù về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục thực hiện 03 vụ trộm cắp, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 04 giờ 45 phút ngày 22/3/2023, Nguyễn Văn M đi bộ vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh K (A Y, phường L, thành phố N) xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đến tầng 3 khu dịch vụ khoa nhi của bệnh viện thì thấy chị Cà T3 đang ngủ và có để 01 ví da màu nâu ở túi áo khoác bên trong có 1.860.000 đồng. M lén lút lấy trộm chiếc ví rồi bỏ đi khoảng 01 mét thì bị chị T3 phát hiện, truy hô “Trộm, trộm” Mỹ liền quăng lại chiếc ví cho chị T3 rồi bỏ chạy xuống tầng trệt của Bệnh viện thì bị mọi người xung quanh đuổi theo, bắt giữ và đưa M về trụ sở Công an phường L làm việc.

Công văn số 437/HĐĐG ngày 24/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- U từ chối định giá đối với 01 ví da màu nâu do không rõ nguồn gốc, xuất xứ, chủng loại của tài sản và không có hồ sơ, tài liệu liên quan.

Vụ thứ hai: Khoảng 06 giờ ngày 28/7/2023, Nguyễn Văn M đến Q thuộc phường L, thành phố N, Mỹ thấy một nhóm học sinh đang tập văn nghệ trên tháp Trầm H2 và có để ba lô nên M đi lên tháp Trầm H2 lấy trộm 01 ba lô bằng vải caro màu trắng đen có họa tiết của cháu Hồ Hoàng H bên trong đựng một số sách vở, 01 bộ đồ thể dục, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus màu đen và 01 ba lô màu đỏ của cháu Phù Xuân L1 bên trong đựng 01 chai nước rửa tay, 01 khăn giấy, 01 chai nước, 01 bộ quần áo thể dục, 100.000 đồng tiền mặt rồi bỏ đi. Khi đó có anh Nguyễn Minh Đ1 phát hiện, truy hô “Trộm, trộm” sau đó chạy đến cùng anh Nguyễn Trí T2 bắt giữ M và đưa M cùng tang vật về trụ sở công an phường L làm việc.

Kết luận định giá tài sản số 327/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- U kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Apple loại Iphone 7Plus- 32Gb màu đen trị giá 3.550.000 đồng.

Tại Công văn số 405/HĐĐG ngày 29/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- U từ chối định giá đối với 01 ba lô bằng vải caro màu trắng đen có họa tiết, một số sách vở, 02 bộ đồ thể dục, 01 ba lô màu đỏ, 01 chai nước rửa tay, 01 khăn giấy, 01 chai nước- do không rõ nguồn gốc, xuất xứ, chủng loại của tài sản và không có hồ sơ, tài liệu liên quan.

Vụ thứ ba: Khoảng 05 giờ ngày 07/8/2023, Nguyễn Văn M đi bộ vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh K (A Y, phường L, thành phố N) lên khu dịch vụ tầng 3 và quan sát thấy phòng bệnh số 02 có chị Lê Thị B đang nằm cùng con nhỏ trên giường bệnh, phía đầu giường có 01 giỏ xách màu xám bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, 70.000 đồng tiền mặt và 01 dụng cụ bấm móng tay. M lén lút vào trong phòng lấy trộm giỏ xách rồi bỏ đi thì bị mọi người xung quanh phát hiện, truy hô “Trộm, trộm”. Lúc này, M cầm giỏ xách xuống cầu thang thì người dân và anh Đinh Hoàng H1 (Công ty B1) bắt giữ và đưa M cùng tang vật về trụ sở Công an làm việc.

Kết luận định giá tài sản số 356/KL-HĐĐGTS ngày 10/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- U kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo loại A17k dung lượng 64 Gb màu xanh trị giá 2.455.200 đồng. Đối với 01 giỏ xách màu xám chất liệu bằng vải có hiệu Lunch Bag do không rõ nhãn hiệu, không đủ thông tin về tài sản nên không có cơ sở để định giá.

Công văn số 404/HĐĐG ngày 29/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- U từ chối định giá đối với 01 dụng cụ bấm móng tay do không rõ nguồn gốc, xuất xứ, chủng loại của tài sản và không có hồ sơ, tài liệu liên quan.

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn M đã trộm cắp là 8.035.200 đồng.

Bản Cáo trạng số 310/CT-VKSNT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang để xét xử Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản nhưng thay đổi khung hình phạt (giữ nguyên điều nhưng thay đổi khoản), đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, xử phạt Nguyễn Văn M từ 01 năm đến 02 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng vắng mặt. Xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, Nguyễn Văn M khai nhận trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 8/2023, M đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể: Khoảng 04 giờ 45 phút ngày 22/3/2023, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh K (A Y, phường L, thành phố N) Mỹ lén lút trộm số tiền 1.860.000 đồng của chị Cà T3. Khoảng 06 giờ ngày 28/7/2023, tại Q thuộc phường L, thành phố N, Mỹ trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus màu đen có giá trị 3.550.000 đồng và 100.000 đồng tiền mặt của các cháu Hồ Hoàng H, Phù Xuân L1. Khoảng 05 giờ ngày 07/8/2023, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh K (A Y, phường L, thành phố N) Nguyễn Văn M trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Oppo loại A17k dung lượng 64Gb màu xanh có giá trị 2.455.200

đồng và 70.000 đồng tiền mặt của chị Lê Thị B. Tổng giá trị tài sản Mỹ đã trộm cắp là 8.035.200đ (tám triệu ba mươi lăm nghìn hai trăm đồng). Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng, phù hợp biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, các biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản làm việc, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hành vi của Nguyễn Văn M đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa truy tố Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất ổn định trật tự xã hội ở địa phương. Bị cáo là người đang có tiền án 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 49/2011/HSPT ngày 15/3/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa), chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/9/2011 nhưng chưa đóng án phí nên chưa được xóa án tích, do đó bị cáo phạm tội lần này là tái phạm. Bị cáo chưa được xóa án tích về tội trộm cắp tài sản, nên hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Văn M thực hiện vào ngày 22/3/2023 (giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng) vẫn đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; 02 vụ trộm cắp tài sản bị cáo thực hiện trong tháng 7, tháng 8/2023, giá trị tài sản trộm cắp mỗi vụ đều trên 2.000.000 đồng, nên áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn M. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của cháu Hồ Hoàng H; sinh ngày 31/01/2010 và cháu Phù Xuân L1; sinh ngày 19/02/2010 nên thuộc trường hợp phạm tội đối với người dưới 16 tuổi- là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân rất xấu, bị kết án nhiều lần về tội chiếm đoạt tài sản của người khác và các tội khác quy định tại Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản phạm tội có giá trị không lớn, đã được thu hồi trả cho các bị hại, bị cáo phạm tội khi là người cao tuổi nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo trộm cắp 1.860.000 đồng của chị Cà T3; trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus màu đen có giá trị 3.550.000 đồng và 100.000 đồng tiền mặt của các cháu Hồ Hoàng H, Phù Xuân L1; trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Oppo loại A17k dung lượng 64Gb màu xanh có giá trị 2.455.200 đồng và 70.000 đồng tiền mặt của chị Lê Thị B. Tại phiên tòa, chị Cà T3, các cháu H, L1 và đại diện hợp pháp của các cháu, chị Lê Thị B đều vắng mặt nhưng tất cả đều có lời khai đã nhận lại đủ tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu bồi thường gì nên không xét.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h, i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn M (tên gọi khác: Lê Hoàng M1).
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08/8/2023, thời hạn bị tạm giữ từ ngày 28/7/2023 đến ngày 31/7/2023 được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
  • - Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Không xét yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm giữa các bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đối với bị cáo.
  • - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
  • - Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, quyền kháng cáo của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

THẨM

  • . Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa;

TÒA

  • . Viện kiểm sát nhân dân Tp . Nha Trang;
  • . Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa;
  • . Công an Tp . Nha Trang; Cơ quan thi hành án hình sự;
  • . Sở Tư pháp Khánh Hòa; Thi hành án dân sự Tp. Nha Trang;
  • . Bị cáo, đương sự;
  • . Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN

Nguyễn Trọng Rực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 02/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger