Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-PT.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024

V/v Tranh chấp chia tài sản

chung sau khi ly hôn.

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Việt Giang.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Toàn.

Bà Lê Thị Thu Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số: 39/2023/TLPT- HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn”. Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 51/2023/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 31/2023/QĐXXPT - HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số: 778/2023/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phạm Chí T, sinh năm 1976; địa chỉ: Đ, khu M, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Như H, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ C, khu D, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin vắng mặt)

Người kháng cáo: Anh Phạm Chí T - Là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tiếp theo tại Tòa án nguyên đơn là anh Phạm Chí T trình bày: Trong quá trình hôn nhân tồn tại giữa anh T và chị H thì ngày 19/4/2011, anh T, chị H có bán 01 thửa đất số 11, tờ bản đồ số 41, diện tích 67,9m², ở tại phố Â, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Đất đã được UBND thành phố V cấp Giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt: Giấy CNQSD đất) đứng tên anh T, chị H, cho ông Nguyễn Tiến H1, với giá 1.030.000.000đồng; Toàn bộ số tiền bán đất 1.030.000.000đồng chị H giữ và được gửi vào tại Ngân hàng đứng tên chị H. Sau đó, anh T và chị H đã sử dụng số tiền 400.000.000đồng, để mua thửa đất ở Đ, khu A, phường T, thành phố V (thửa đất này đã được Tòa án giao cho chị sử dụng khi chị H và anh T giải quyết ly hôn năm 2018) còn lại 600.000.000đồng chưa sử dụng, số tiền này chị H đang quản lý. Ngoài ra, phía anh T cho rằng số tiền 600.000.000đồng còn lại khi bán đất cho ông H1 do chị H quản lý và được gửi tại Ngân hàng H2 từ năm 2014 - 2017 (Anh T đề nghị Tòa án xác minh nội dung này). Tại phiên tòa anh T xác định chỉ còn số tiền 520.000.000đồng nên yêu cầu chị H phải thanh toán cho anh số tiền 260.000.000đồng, vì 80.000.000đồng đã được giải quyết tại Bản án số: 13/2018/HNGĐ-ST ngày 06/4/2018.

Phía bị đơn là chị Nguyễn Thị Như H vắng mặt, nhưng đã có lời khai trình bày trong hồ sơ vụ án có nội dung: Quá trình hôn nhân đang tồn tại giữa chị H và anh T thì năm 2011, chị H và anh T có bán thửa đất cho ông H1 với giá là: 1.030.000.000đồng, như anh T trình bày là đúng. Nhưng trong quá trình hôn nhân tồn tại từ năm 2011 đến năm 2018, vợ chồng chị đã chi tiêu hết số tiền này và đã được Tòa án giải quyết vào năm 2018, năm 20218, cụ thể là đã trả nợ tiền vay Ngân hàng B và mua thửa đất ở Đ, khu A, phường T, thành phố V, thửa đất này đã được Tòa án giao cho chị H sử dụng, khi chị H và anh T giải quyết ly hôn năm 2018. Ngoài ra, chị H còn cho rằng đã chi tiêu vào việc mua xe ô tô cho anh T chạy Taxi với số tiền là 195.000.000 đồng và chi tiêu mua sắm đồ đạc sinh hoạt gia đình, chỉ tiêu cho việc học tập của vợ chồng, chi tiêu sinh hoạt nuôi dạy con chung. Đến khi chị H và anh T ly hôn năm 2018, thì số tiền này không còn nữa. Nên chị H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T, chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 51/2023/HNGĐ-ST ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đã quyết định:

Căn cứ vào: Điều 33, Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn của anh Phạm Chí T là yêu cầu chị Nguyễn Thị Như H phải thanh toán cho anh T số tiền 260.000.000đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

Kháng cáo: Ngày 28 tháng 8 năm 2023 anh Phạm Chí T - Là bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 51/2023/HNGĐ - ST ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm anh Phạm Chí T giữ nguyên nội dung kháng cáo và không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Chí T, giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 51/2023/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Tòa án nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Phạm Chí T trong thời hạn luật định, phù hợp với qui định tại Điều 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên đủ điều kiện xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của anh Phạm Chí T - Là nguyên đơn. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xác minh lại các khoản chi phí do chị H kê khai cho Tòa án cấp sơ thẩm để làm căn cứ xem xét, giải quyết vụ án; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo và đơn khởi kiện, buộc chị H phải thanh toán cho anh ½ số tiền đã chuyển nhượng diện tích đất tại phường T, thành phố V với số tiền 1.030.000.000đ (đã sử dụng 400.000.000đ), Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo lời khai của anh T và chị H thì trong thời kỳ hôn nhân anh chị có khối tài sản chung số tiền là 600.000.000 đồng. Anh T và chị H đều thừa nhận đối với số tiền 80.000.000đ đã được giải quyết tại Bản án số 13/2018/HNGĐ-ST ngày 06/4/2018 nên số tiền tranh chấp còn lại là 520.000.000 đồng. Đối với số tiền 520.000.000 đồng anh T đề nghị chia tài sản chung mỗi người được hưởng ½ số tiền này. Tại phiên toà anh T cũng xác định vợ chồng anh đã sử dụng 195.000.000 đồng để mua xe cho anh chạy taxi, sau đó vợ chồng anh đã bán được 175.000.000 đồng như chị H đã khai là đúng, như vậy số tiền tranh chấp chỉ còn lại là 500.000.000 đồng. Anh T cho rằng số tiền này chị H gửi tại Ngân hàng TMCP H2 - Chi nhánh P. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm đã có công văn đề nghị Ngân hàng H2 cung cấp thông tin liên quan đến nội dung này. Tại Công văn số 47/2023/CV-MSBPTO ngày 07/6/2023 của Ngân hàng TMCP H2 - Chi nhánh P cung cấp: Thời điểm từ ngày 01/01/2014 đến ngày 31/12/2017 thì chị Nguyễn Thị Như H không phát sinh giao dịch nào gửi tiết kiệm hoặc gửi tiền vào tài khoản của chị Nguyễn Thị Như H. Vì vậy, số tiền trên chị H không gửi tiết kiệm như anh T đã trình bày. Anh T cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì khác.

Chị H không có mặt tại phiên toà phúc thẩm nhưng tại cấp sơ thẩm chị H trình bày đối với số tiền 500.000.000đ chị đã chi tiêu hết trong thời kỳ hôn nhân, cụ thể là trả nợ vay ngân hàng B và chi tiêu mua sắm vật dụng trong gia đình, chi tiêu cho việc học tập của vợ chồng, chi tiêu sinh hoạt nuôi dạy con chung từ năm 2011 đến khi ly hôn năm 2018 là có căn cứ vì: Trong thời kỳ hôn nhân thì anh T và chị H công việc không ổn định, đều có thu nhập thấp, hai con đều còn nhỏ, chi phí ăn học tốn kém, tại phiên toà phúc thẩm anh T cũng thừa nhận thời điểm năm 2011 thì lương của chị H là 1.200.000đ/01 tháng và anh làm thuê cho 03 công ty tổng thu nhập khoảng 6.000.000đ/01 tháng. Trong thời gian này chị H đi học liên tục nên việc chị H chi tiêu số tiền trên cho gia đình có 04 người trong suốt một thời gian dài và mua sắm vật dụng trong gia đình là phù hợp, nên cần xác định đây là khoản chi tiêu thực tế. Mặt khác đây là khoản tiền lớn trong quá trình hôn nhân tồn tại của anh T chị H nhưng khi giải quyết vụ án ly hôn năm 2018 và vụ án chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn năm 2021 anh T và chị H đều không yêu cầu Toà án giải quyết đối với số tiền này.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Chí T. Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 51/2023/HNGĐ - ST ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

[3]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên anh Phạm Chí T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không châp nhận kháng cáo của anh Phạm Chí T. Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 51/2023/HNGĐ - ST ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ vào: Điều 33, Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 5 Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn của anh Phạm Chí T là yêu cầu chị Nguyễn Thị Như H phải thanh toán cho anh T số tiền 260.000.000đồng (Hai trăm sáu mươi triệu đồng).
  2. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh T phải chịu 300.000 đồng án phí chia tài sản chung sau khi ly hôn. Xác nhận anh T đã nộp 7.500.000 đồng (Bảy triệu, năm trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2020/0010182 ngày 21/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả lại anh T số tiền 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng).

Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Phạm Chí T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận anh T đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0004311 ngày 28/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - TAND TP. Việt Trì;
  • - Chi cục THADS TP. Việt Trì;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, AV;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đinh Việt Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HNGĐ-PT ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn

  • Số bản án: 02/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger