Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HS-ST

Ngày 04-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Hữu Thanh

Bà Ngô Thị Oanh Kiều

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Nở, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

- Nguyễn Hữu P; sinh ngày 01/01/1992, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965 và bà Ngô Thị T1, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Có 01 tiền án về hành vi trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xử phạt 09 tháng tù theo Bản án số 21/2022/HS-ST ngày 14/4/2022. Chấp hành xong hình phạt chính (hình phạt tù) vào ngày 04/02/2023 và thi hành nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 17/3/2023 (chưa được xóa án tích); tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, bị Công an thị trấn T, huyện T xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số: 19/QĐ-XPHC ngày 03/9/2021; nhân thân: đã bị kết án chưa xoá án tích, bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản mà còn vi phạm; Bị khởi tố vào ngày 22/9/2023 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Minh T2, sinh năm 1993. Địa chỉ ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt không có lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Ngô Công Đ, sinh ngày 25/4/1999. Địa chỉ khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt không có lý do.

Ngô Thị T1, sinh năm 1966. Địa chỉ ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

- Người làm chứng: Bà Trần Thị Q, sinh ngày 03/02/1971. Địa chỉ ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 20/7/2023, bị cáo tự ý lấy xe mô tô, biển số: 84B1 - 66.549 của mẹ ruột bị cáo tên Ngô Thị T1, sinh năm 1966 nơi thường trú và nơi ở hiện tại: ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh điều khiển một mình từ nhà bị cáo ra đường tránh Quốc lộ E về hướng xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh để tìm tài sản trộm. Trên đường đi đến ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh bị cáo nhìn thấy nhà kho chứa mắm của ông Nguyễn Minh T2 có nhiều con gà đang thả rong. Lúc này, bị cáo quan sát xung quanh không thấy ai, rồi bị cáo điều khiển xe mô tô từ Quốc lộ E, đi theo đường mòn đến nhà kho của ông T2, bị cáo tắt máy xe và dựng xe trước cửa rào. Sau đó, bị cáo đi lại chổ cửa rào thấy cửa không khóa nên dùng tay đẩy cửa rào qua một bên, bị cáo lén lút đi vào bên trong, bị cáo nhìn thấy hai con gà trống của ông T2 đang nhốt trong hai cái bội, bị cáo đi lại gần bội gà rồi mở cửa bội và bắt trộm hai con gà nêu trên, bị cáo cất giấu hai con gà vừa trộm được vào trong áo của bị cáo đang mặc ở phía trước bụng, rồi quay đi ra theo đường cũ.

Sau đó, bị cáo điều khiển xe đem hai con gà trộm được bán cho ông Ngô Công Đ với giá 500.000 đồng, được tiền bị cáo tiêu xài cá nhân hết 438.000 đồng, còn lại số tiền 62.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, ông T2 đến nhà kho thì phát hiện hai con gà của ông nhốt trong bội bị mất. Sau đó, ông T2 đến Công an xã N trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận nguồn tin báo tố giác, Công an xã N tiến hành xác minh làm rõ và mời bị cáo Nguyễn Hữu P làm việc. Tại Cơ quan Công an bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Đồng thời, giao nộp số tiền bán gà mà bị cáo tiêu xài còn lại là 62.000 đồng cùng một chiếc xe mô tô nêu trên cho Cơ quan Công an để tạm giữ và quản lý

Căn cứ Bản kết luận định giá số: 17/KL-HĐĐGTS, ngày 03/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận:

  • - 01 (một) con gà trống (còn sống), lông màu trắng, cân nặng 2.750 kg. Có giá trị là 275.000 đồng (Hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
  • - 01 (một) con gà trống (còn sống), lông màu trắng, đỏ, đen, cân nặng 2.450 kg. Có giá trị là 245.000 đồng (Hai trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

Tổng giá trị hai con gà nêu trên là 520.000 đồng

Qua quá trình xác minh, nhận thấy bị cáo Nguyễn Hữu P có một tiền án về tội trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xử phạt 09 tháng tù theo Bản án số: 21/2022/HS-ST ngày 14/4/2022. Bị cáo chấp hành xong hình phạt chính (hình phạt tù) vào ngày 04/02/2023 và thi hành nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 17/3/2023. Đến ngày 20/7/2023, bị cáo Nguyễn Hữu P chưa được xóa án tích thì tiếp tục phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu P đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Ngày 27/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu từ bị cáo gồm:

  • - Tiền Việt Nam 62.000 đồng.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu JUPITER, màu sơn Đỏ - Đen - Bạc, biển số: 84B1 - 66.549, đã qua sử dụng.

Đến ngày 29/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Lệnh nhập kho vật chứng thuộc Nhà tạm giữ Công an huyện T đối với xe mô tô của bị cáo nêu trên để quản lý. Riêng đối với số tiền 62.000 đồng đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Cú để quản lý theo biên lai số 0002386 ngày 08/11/2023.

Đối với bà Ngô Thị T1 là mẹ ruột của bị cáo Nguyễn Hữu P chủ sở hữu chiếc xe mô tô nêu trên. Việc bị cáo P, tự ý lấy xe của bà để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bà hoàn toàn không biết. Do đó, không xem xét xử lý trách nhiệm. Đối với ông Ngô Công Đ, là người trực tiếp mua hai con gà mà bị cáo trộm được với số tiền là 500.000 đồng. Ông Đ hoàn toàn không biết hai con gà nêu trên là do bị cáo phạm tội mà có. Do đó, không xem xét xử lý trách nhiệm.

Tại Cáo trạng số: 70/CT-VKS-HS, ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Nguyễn Hữu P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu P trình bày: Thừa nhận vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 20/7/2023, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã có hành vi lén lút bắt trộm 02 (hai) con gà trống của ông T2 tại ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Về trách nhiệm dân sự bị hại ông Nguyễn Minh T2 vắng mặt, nhưng đã nhận lại hai con gà bị mất trộm nên không có yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Công Đ là người trực tiếp mua hai con gà mà bị cáo trộm được với số tiền là 500.000 đồng và bị Cơ quan điều tra thu hồi tang vật trả lại cho bị hại, ông Đ không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền nêu trên.

Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, tính chất mức độ hành vi của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự bị hại ông Nguyễn Minh T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Công Đ không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét.

Về vật chứng đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách số tiền 62.000 đồng. Trả lại xe mô tô nhãn hiệu JUPITER, màu sơn Đỏ - Đen - Bạc, biển số: 84B1 - 66.549, đã qua sử dụng cho bà Ngô Thị T1. Về án phí đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban ThườngQuốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu P có lời khai thừa nhận vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 20/7/2023, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo Nguyễn Hữu P đã có hành vi lén lút bắt trộm 02 (hai) con gà trống tại ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh của ông Nguyễn Minh T2. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hữu P là phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với thời gian bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp lời khai của ông Nguyễn Minh T2, ông Ngô Công Đ, phù hợp với vật chứng là 02 con gà trống thu giữ từ ông Ngô Công Đ (do bị cáo bán cho ông Đ) đã giao trả lại cho bị hại.

[2] Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu P đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại ông Nguyễn Minh T2 được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ mục đích phạm tội là vì vụ lợi. Mặt dù số giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt 520.000 đồng (dưới 2.000.000 đồng), nhưng bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh kết án 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản xử phạt theo Bản án số 21/2022/HS-ST ngày 14/4/2022, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính (hình phạt tù) vào ngày 04/02/2023 và thi hành nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 17/3/2023, nhưng đến ngày 20/7/2023, bị cáo Nguyễn Hữu P chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu P lần này đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Qua tranh tụng có căn cứ chứng minh vụ án chỉ một mình bị cáo thực hiện mà không có đồng phạm khác. Mặt dù tội phạm bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng, số tiền bị cáo chiếm đoạt không lớn, nhưng bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, bị Công an thị trấn T, huyện T xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 19/QĐ-XPHC ngày 03/9/2021. Sau đó có 01 tiền án về hành vi trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xử phạt 09 tháng tù theo bản án số 21/2022/HS-ST ngày 14/4/2022 chưa được xóa án tích nhưng vẫn không từ bỏ hành vi sai trái. Tại phiên tòa, khi Hội đồng xét xử hỏi thì bị cáo không biết ăn năn, hối cải, không hứa sẽ từ bỏ việc vi phạm pháp luật. Xét thấy bản án lần trước chưa đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo, bị cáo vẫn xem thường sự nghiêm minh của pháp luật nên tiếp tục phạm tội. Để góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội bảo vệ cuộc sống bình yên của người dân và của địa phương thì hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật, cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội đối với những hành vi tương tự.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản thu hồi kịp thời giao trả cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự bị hại ông Nguyễn Minh T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Ngô Công Đ không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[6] Về vật chứng: Đối với bà Ngô Thị T1 là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số: 84B1 - 66.549 và đây là phương tiện chung duy nhất của gia đình của bà T1 sử dụng để mưu sinh. Việc bị cáo P, tự ý lấy xe của bà T1 để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bà T1 không biết. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố hình sự trả lại xe mô tô nhãn hiệu JUPITER, màu sơn Đỏ - Đen - Bạc, biển số: 84B1 - 66.549, đã qua sử dụng cho bà Ngô Thị T1. Đối với số tiền 62.000 đồng là do phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố và thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Không có

Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại xe mô tô nhãn hiệu JUPITER, màu sơn Đỏ - Đen - Bạc, biển số: 84B1 - 66.549, đã qua sử dụng cho bà Ngô Thị T1.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 62.000 đồng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại ông Nguyễn Minh T2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Ngô Công Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết công khai hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, người liên quan;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THADS huyện Trà Cú;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Trà Cú;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Truyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 02/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu Phước
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger