Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BÌNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 02/2024/DS-ST

Ngày: 04 - 01 - 2024

V/v tranh chấp kiện đòi tài sản.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thành Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hoàng Minh;
  2. Ông Trần Quang Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trà My – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 08 tháng 12, ngày 28 tháng 12 năm 2023 và ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 427/2022/TLST- DS ngày 05 tháng 12 năm 2022, về việc “Tranh chấp kiện đòi sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2023/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 225/QÐST-DS ngày 08 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Bùi Thị T: 1996 (có mặt);

Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền cho chị Bùi Thị TINguyễn Thị K: 1967 (có mặt);

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: anh Phùng Phú Q: 1991 (vắng mặt không có lý do);

Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, biên bản mở phiên họp – hòa giải và tại phiên tòa hôm nay Nguyên đơn chị Bùi Thị T1: chị và anh Phùng P Q1vợ chồng, năm 2019 anh chị đi làm thuê mướn tại tỉnh Bình Dương, chị làm công nhân tại Công ty M– phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dươngđược ưu đãi cho công nhân vay tiền tính chấp trả dần hàng tháng tại Ngân hàng S Bvà Ngân hàng M1chi nhánh B, với hạn mức vay mỗi Ngân hàng cho vay là 30.000.000đ, thời hạn 24 tháng, hình thức trả góp (1.600.000đ/tháng). Vì vậy chị ký hợp đồng tín dụng vay đối với 02 Ngân hàng nêu trên, tổng số vốn là 60.000.000đ để chị và anh Q2chi phí thiết yếu sinh hoạt gia đình, về tài liệu hồ sơ vay khi nhận tiền xong thì chị giao cho anh Q3giữ; nhưng sau đó chị và anh Q4ra nhiều mâu thuẩn không thể sống chung được, nên năm 2020 chị đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Q1 định, đến ngày 26/3/2020 chị và anh Q2 án nhân dân huyện T giải quyết thuận tình ly hôn tại quyết định số: 69/2020/QÐST-HNGĐ.

Riêng về phần tài sản chung thì không có; còn phần nợ chung thì anh chị tự thỏa thuận tại “Tờ thỏa thuận, lập ngày 03/3/2020” mỗi người có nghĩa vụ trả 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) đối với khoản tiền vay 02 Ngân hàng nêu trên tại tỉnh Bình Dương lúc vợ chồng còn sống chung. Do đó, theo hợp đồng tín dụng đến ngày 15/9/2020 chị đã tất toán xong đối với 02 hợp đồng tín dụng (nêu trên) khoản nợ là 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng); trong đó nợ Ngân hàng S và nợ Ngân hàng M1chi nhánh B30.000.000đ (nhưng do khi làm đơn khởi kiện chị nhầm lẫn ghi là Ngân hàng Q5 là không chính xác).

Sau khi trả xong 02 khoản nợ trên, chị đã nhiều lần gặp anh Q7yêu cầu hoàn trả lại số tiền 30.000.000đ, nhưng anh Q8hứa lần kéo dài thời gian đến nay không trả cho chị; do đó, nay chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Q9lại cho chị số tiền 30.000.000đ nêu trên, chị không có yêu cầu anh Q10lãi trong thời gian qua.

Tuy nhiên, hiện nay được biết anh Q11gặp khó về kinh tế do không có việc làm, nên chị chỉ yêu cầu anh Q9đủ số tiền nợ tại “Tờ cam kết, ngày 17/8/2020” là 27.200.000₫ (Hai mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng) phần còn lại chị tự nguyện giảm bớt cho anh Q

- Bị đơn anh Phùng P Q13: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định gồm Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra giao nộp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa. Nhưng đến nay anh Q vẫn cố tình vắng mặt (không có lý do), không đến Tòa án để tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến hay cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình tiến hành tố tụng Tòa án đã tống đạt hợp lệ theo quy định cho anh Phùng Phú Q4 báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra giao nộp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa; nhưng anh Q15cố tình vắng mặt, không đến tham gia tố tụng tại Tòa án theo quy định.

Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Phùng P Q1phù hợp theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo thông báo thụ lý vụ án, quan hệ tranh chấp “Kiện đòi tài sản” là chưa phù hợp với nội dung tranh chấp và yêu cầu giải quyết của chị Bùi Thị T2 tòa sơ thẩm.

Do đó, Hội đồng xét xử xác định nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T3 anh Phùng P Q16nay là phát sinh quan hệ “Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn” được quy định tại Điều 27, 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là phù hợp.

Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình thụ lý giải quyết là đúng theo quy định pháp luật, về thẩm quyền được quy định tại các Điều 26, 35, 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ, lời khai nhận của các đương sự có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày tại phiên tòa của các đương sự, có đủ cơ sở xác định:

Việc chị Bùi Thị T4 yêu cầu anh Phùng P Q17nghĩa vụ trả lại cho chị số tiền 27.200.000₫ (Hai mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng) trong phần nợ chung của vợ chồng là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, tại “Tờ thỏa thuận, lập ngày 03/3/2020” anh Q18thống nhất thỏa thuận ký tên chịu trách nhiệm đối với khoản nợ chung của vợ chồng vay tại Ngân hàng Q6(chính xác là Ngân hàng Mlchi nhánh tỉnh Blà 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), nhưng thời gian qua anh Q19thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, nên chị T6suất tiền cá nhân tất toán nợ đối với 02 Ngân hàng nêu trên xong; do đó, anh Q20có nghĩa vụ hoàn trả lại cho chị T7phù hợp theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay, chị T8biết anh Q11gặp khó về kinh tế do không có việc làm, nên chị tự nguyện giảm bớt cho anh Q21phần tiền, chỉ yêu cầu anh Phùng P Q22đủ số tiền nợ tại “Tờ cam kết, ngày 17/8/2020” là 27.200.000₫ (Hai mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa hôm nay anh Q23mặt, nhưng xét thấy tại “Biên bản ghi lời khai ngày 03/4/2023” anh Q18khai với Tòa án là “khi còn sống chung anh và chị T9vay tiền Ngân hàng, và hiện nay anh còn thiếu 30.000.000đ nhưng anh đang thất nghiệp nên chưa có điều kiện trả lại theo yêu cầu của chị T

Từ phần tích và nhận định trên, có đủ cơ sở buộc anh Q trả cho chị T11tiền 27.200.000₫ (Hai mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng) là phù hợp theo quy định pháp luật.

[4] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T12anh Phùng P1 Q22lại cho chị T11tiền 27.200.000₫ (Hai mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng) là phù hợp theo quy định tại Điều 27, 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định;

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 36, 39, 147, 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 27, 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 166, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q2.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T3 anh Phùng P1 Q13

Buộc anh Phùng P1 Q17nghĩa vụ trả lại cho chị Bùi Thị T6 số tiền 27.200.000₫ (Hai mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày chị T9đơn yêu cầu thi hành án, mà anh Q chưa thi hành xong số tiền trên; thì hàng tháng anh Q20chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm thi hành.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Anh Phùng P1 Q24chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.360.000đ (Một triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

- Chị Bùi Thị T7 chịu án phí dân sự sơ thẩm; nên được nhận lại tiền nộp tạm ứng án phí là 750.000₫ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu ký hiệu 14BE-21 số: 0014465 ngày 29 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án. Riêng anh Phùng P1 Q17quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được (bản sao) bản án hoặc kể từ ngày Tòa niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Thanh Bình;
  • - Chi cục THADS H. Thanh Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP-TA và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Phạm Thành Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/DS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn

  • Số bản án: 02/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buộc anh Phùng P1 Q17nghĩa vụ trả lại cho chị Bùi Thị T6 số tiền 27.200.000đ (Hai mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger