Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Q

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HS - ST.

Ngày 04/01/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thảo.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1 - Ông Mong Thái Dương.
  • 2 - Ông Lê Văn Lương.
  • - Th- ký phiên toà: Bà Lương Huyền Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên toà:
  • Bà Lang Thị Ngọc Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án Hình sự thụ lý số 117/2023/TLST - HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2023/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Lữ Văn B - Sinh năm 1972 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: Bản N, xã TP, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Lớp 4/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lữ Văn Thuyên (Đã chết); con bà: Lữ Thị Thi; Vợ: Lương Thị Chuyên; con: Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1997.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 27/11/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Q xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Ngày 22/9/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Q xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương ngày 08/9/2013.

Bị cáo tại ngoại tại Bản N, xã TP, huyện Q. Có mặt.

+ Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Trợ giúp viên pháp lý.

Công tác tại: Chi nhánh số 2 - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

+ Người chứng kiến: Ông Hà Văn H - Sinh năm: 1963.

Trú tại: Bản Piêng Cu, xã Tiền Phong, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 19 tháng 9 năm 2023, Lữ Văn B đi nhờ xe máy từ nhà đến khu vực bản Ná Ca, xã Mường Nọc, huyện Q với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây Bính gặp và hỏi mua ma túy Heroine với một người đàn ông không quen biết hết số tiền là 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Lữ Văn B bỏ vào trong túi quần đang mặc rồi đi về, trên đường về, Bính lấy một ít ma túy ra sử dụng, số còn lại tiếp tục cất dấu vào trong túi quần rồi đi về nhà. Khi Lữ Văn B đi đến khu vực Bản N, xã TP, huyện Q thì bị tổ công tác Công an xã Nậm Nhóong, huyện Q phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ là 01 gói chất bột màu trắng (Nghi là Heroine) được bọc bằng mảnh giấy bạc.

Bản kết luận giám định số: 955/KL - KTHS (Đ2 - MT) ngày 26/9/2023 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lữ Văn B gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine (Tên khoa học: Diacetylmorphine). Số chất bột màu trắng thu giữ của Lữ Văn B có khối lượng là 0,21 gam (Không phẩy hai mươi mốt gam).

Tại phiên tòa, bị cáo Lữ Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể:

Vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 19/9/2023, Lữ Văn B đang có hành vi cất dấu ma túy trái phép thì bị Tổ công tác Công an xã Nậm Nhóong, huyện Q phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Lữ Văn B 01 gói Heroine có khối lượng là 0,21 gam (Không phẩy hai mươi mốt gam). Mục đích của bị cáo tàng trữ ma túy là để sử dụng.

Cáo trạng số 02/CT - VKS - QP, ngày 14/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lữ Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Q tuyên bố bị cáo Lữ Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lữ Văn B từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù; đề nghị xử lý vật chứng; miễn phạt tiền bổ sung cho bị cáo; miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Lữ Văn B không tranh luận về tội danh. Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lữ Văn B 12 tháng tù; miễn phạt tiền bổ sung cho bị cáo, miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo.

Bị cáo Lữ Văn B không có ý kiến tranh luận hay đối đáp với quan điểm của kiểm sát viên, chỉ xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo cải tạo tốt, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, của Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2].Về nội dung vụ án: Vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 19/9/2023, Lữ Văn B đang có hành vi cất dấu ma túy trái phép thì bị Tổ công tác Công an xã Nậm Nhóong, huyện Q phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Lữ Văn B 01 gói Heroine có khối lượng là 0,21 gam (Không phẩy hai mươi mốt gam). Mục đích của bị cáo tàng trữ ma túy là để sử dụng. Vì vậy bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý độc quyền của nhà nước về chất gây nghiện, làm ảnh hưởng đến sức khỏe nòi giống của con người, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm nhằm thỏa mãn cơn nghiện thấp hèn của bản thân nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy cần xét xử nghiêm và lên một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để bị cáo có điều kiện đi cai nghiện, cải tạo bản thân thành người có ích cho gia đình, xã hội và răn đe, phòng ngừa chung tình trạng tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây trên địa bàn huyện miền núi, biên giới Q. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của nhà nước.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q đề nghị xử phạt bị cáo Lữ Văn B từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm đối với bị cáo là hợp lý.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn không có tài sản gì giá trị để đảm bảo cho việc thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng: Vật chứng thu giữ của bị cáo là 0,21 gam Heroine. Qúa trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện Q đã lấy 0,1 gam Heroine đi giám định và đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét. Số vật chứng còn lại là 0,11 gam Heroine, đây là chất nhà nước độc quyền quản lý, cấm lưu hành và mảnh giấy bạc, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu thu giữ của Lữ Văn B không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người đàn ông có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lữ Văn B (Theo như lời khai của Bính) do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

[7]. Về án phí: Bị cáo Lữ Văn B là đối tượng thuộc diện hộ nghèo của Chính Phủ quy định nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lữ Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử Phạt bị cáo Lữ Văn B - 18 tháng tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư bưu điện được niêm phong nguyên vẹn, bên trong đựng 0,11 gam Heroine mảnh giấy bạc và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu thu giữ của Lữ Văn B.

Chi tiết được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 12 năm 2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Q với Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Căn cứ các điều 135 và khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ vào điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo Lữ Văn B được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lữ Văn B có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Quế Phong;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an huyện Quế Phong;
  • - Trại tạm giam; trại giam;
  • - Chi cục THADS huyện Quế Phong;
  • - Sở tư pháp; UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu Văn phòng, THAHS; Hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS - ST. ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 02/2024/HS - ST.
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LỮ VĂN BÍNH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger