|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày 04-01-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phẩm
Bà Trần Thị Mỹ Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1992 tại Trung tâm y tế huyện M. Nơi cư trú: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Thợ hớt tóc; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Đặng Thị Lệ E; anh chị em ruột có 07 người (lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất là bị cáo); có vợ Nguyễn Ngọc T1; có 01 con sinh năm 2017; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đã được xóa; hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 2002 tại Trung tâm y tế huyện M. Nơi cư trú: ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng D (chết) và bà Võ Thị Tuyết V; anh chị em ruột có 02 người (lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất là bị cáo); có vợ tên Đinh Thị Tuyết N; có 01 con sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: 01: Ngày 09/12/2022 bị Công an xã T, huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc ngày 16/11/2022 với số tiền là 1.500.000 đồng (đã đóng phạt); nhân thân: chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đã được xóa; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Long và có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T: Bà Nguyễn Thị Hồng T2 – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V (có mặt)
Địa chỉ: Số A N, Phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị hại:
- Bà Bùi Thị P, sinh năm 1968 (xin vắng mặt)
- Ông Trịnh Văn S, sinh năm 1965 (xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
- Ông Hồ Văn Hoài T3, sinh năm 1983 (xin vắng mặt)
- Bà Dương Thị N1, sinh năm 1988 (xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khóm D, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Chỗ ở hiện nay: Số F, Khóm B, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959 (vắng mặt)
- Bà Đặng Thị Lệ E, sinh năm 1957 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Ngọc T và bị cáo Nguyễn Hữu Đ là bạn bè quen biết nhau.
Vào khoảng 22 giờ ngày 27/7/2023, bị cáo Đ đi bộ đến nhà bị cáo T nói chuyện chơi. Đến khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 28/7/2023 bị cáo T rủ bị cáo Đ đi trộm cắp tài sản của người khác đem đi bán lấy tiền để tiêu xài cá nhân và mua ma túy về sử dụng nên Đ đồng ý. Sau đó, bị cáo T điều khiển xe mô tô biển số: 64H1-027.32 chở Đ, đi từ nhà về hướng Ủy ban nhân dân xã N để tìm kiếm tài sản lấy trộm. Khi vừa xuống dốc cầu gần nhà thờ N2, cả hai quẹo trái chạy theo đường lộ đal, đi được một đoạn, bị cáo T phát hiện 02 (hai) cái ghế bàn tròn bằng kim loại, màu trắng, để bên mái hiên nhà ở phía bên tay phải theo hướng từ ngoài nhìn vào trong nhà của bà Bùi Thị P không có ai trong coi nên nảy sinh ý định lấy trộm. Sau đó, bị cáo T ở bên ngoài giữ xe và cảnh giới, bị cáo Đ đi vào lấy trộm 01 (một) cái ghế bàn đem ra xe. Sau đó, bị cáo T điều khiển xe mô tô chở bị cáo Đ cùng với ghế bàn đến tiệm thu mua phế liệu của bà Huỳnh Thị L bán cho bà L với giá 400.000 đồng (lúc này khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày).
Sau khi bán tài sản xong, bị cáo T tiếp tục rủ bị cáo Đ quay về nhà bà P để lấy trộm cái ghế bàn còn lại, bị cáo Đ đồng ý nên bị cáo T điều khiển xe mô tô chở bị cáo Đ quay về nhà bà P, khi đến trước nhà bà P thì bị cáo T đậu xe ngồi ở ngoài đợi và cảnh giới, còn bị cáo Đ đi vào lấy trộm 01 cái ghế bàn còn lại và đem ra xe. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở Đ cùng ghế bàn đi về nhà T cất giấu. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc T và Đ chuẩn bị đem ghế bàn đi bán thì bị lực lượng Công an xã N, huyện M đến mời làm việc. Qua làm việc thì T và Đ đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình, đồng thời thu giữ vật chứng là ghế bàn trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 37/KLĐGTS ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M. Kết luận 02 (hai) cái bàn tròn Inox, màu trắng, mặt bàn có đường kính 112 cm. Nguyên giá 1.800.000 đồng/cái x 60% = 1.080.000 đồng/cái. Giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt: 2.160.000 đồng.
Ngày 21/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Hữu Đ, về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Hữu Đ khai nhận ngoài thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, trước đó cả hai còn thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản khác, cụ thể như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 27/7/2023, bị cáo T đang ở nhà thì bị cáo Đ đến chơi, đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, T rủ Đ đi trộm cắp tài sản đem bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân thì Đ đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số: 64H1-027.32 chở Đ đi từ nhà về hướng thị trấn C, để tìm tài sản lấy trộm. Khi T điều khiển xe mô tô ngang nhà của ông Hồ Văn Hoài T3 thì cả hai phát hiện 01 (một) cái ghế bàn tròn bằng kim loại, màu trắng để bên hông nhà, có hàng rào lưới B40 và cửa nhà đóng khóa lại, không có ai trông coi nên cả hai nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Sau đó, T quay xe mô tô lại, Đ ở ngoài xe đợi, còn T đi vào lấy trộm tài sản. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở Đ cùng với ghế bàn đến tiệm thu mua phế liệu của bà Huỳnh Thị L bán với giá 400.000 đồng (lúc này khoảng 17 giờ cùng ngày, Đ là người trực tiếp vào bán). Sau khi bán xong T điều khiển xe chở Đ đến khu vực gần cầu K, thuộc địa bàn thành phố V, mua ma túy (loại Heroin) của một nam thanh niên (không xác họ tên, địa chỉ) với số tiền là 300.000 đồng đem về nhà sử dụng. Còn lại số tiền 100.000 đồng, cả hai tiêu xài cá nhân hết.
Theo kết luận định giá tài sản số: 44/KLĐGTS ngày 15/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M. Kết luận: 01 (một) cái bàn tròn bằng kim loại, màu trắng, mặt bàn có đường kính 113cm, ghế cũ đã qua sử dụng năm 2022. Giá trị tài sản tại thời điểm trộm cắp là: 2.200.000đồng x 90% = 1.980.000 đồng.
Trong quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Hữu Đ đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
*Về tang vật đã thu giữ:
- 02 (hai) cái bàn tròn, được làm bằng kim loại, màu trắng, mặt bàn có đường kính là 112cm, cũ đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Bùi Thị P và ông Trịnh Văn S. Hiện nay bà P đã nhận lại tài sản xong.
- 01 (một) cái bàn tròn, được làm bằng kim loại màu trắng, mặt bàn có đường kính 113cm, cũ đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Hồ Văn Hoài T3 và bà Dương Thị N1. Hiện nay ông Thanh đã nhận lại tài sản xong.
- 01 (một) xe mô tô biển số 64H1-027.32, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: NOUVO, nàu: Đen – Đỏ, số máy: 5P11-220444, số khung: 110AY-220440, xe cũ đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn H và bà Đặng Thị Lệ E, bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
*Trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
- Bị hại bà Bùi Thị P, ông Trịnh Văn S, ông Hồ Văn Hoài T3, bà Dương Thị N1 đã nhận lại tài sản xong, không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.
- Bà Huỳnh Thị L không yêu cầu các bị cáo T và Đ trả lại số tiền 800.000 đồng.
Đối với bà Huỳnh Thị L, khi mua 02 (hai) cái bàn tròn, do bị cáo T và Đ bán, bà L hoàn toàn không biết tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý.
Bị cáo T và bị cáo Đ đã lấy trộm tài sản và đem đi bán cho bà Huỳnh Thị L với tổng số tiền 800.000 đồng. Đây là tiền thu lợi bất chính, các bị cáo phải nộp lại số tiền này, tuy nhiên hiện nay các bị cáo chưa nộp lại.
Đối với ông Nguyễn Văn H và bà Đặng Thị Lệ E giao mô tô biển số 64H1-027.32 cho bị cáo T sử dụng làm phương tiện đi lại, bị cáo T đã sử dụng xe mô tô biển số 64H1-027.32 để đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì ông H và bà E hoàn toàn không biết, nên không xử lý.
Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKS.HMT, ngày 07/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T và bị cáo Nguyễn Hữu Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc T và bị cáo Nguyễn Hữu Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc T và bị cáo Nguyễn Hữu Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo T từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo Đ từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
- Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
- + Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét giải quyết.
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Huỳnh Thị L không yêu cầu các bị cáo T và Đ trả lại số tiền 800.000 đồng, nên không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
- + Căn cứ điểm b Điều 46; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại ông Nguyễn Văn H và bà Đặng Thị Lệ E 01 (một) xe mô tô biển số 64H1-027.32, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: NOUVO, nàu: Đen – Đỏ, số máy: 5P11-220444, số khung: 110AY-220440, xe cũ đã qua sử dụng.
- + Căn cứ Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) và bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về án phí:
- + Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Ngọc T, do bị cáo T thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn tiền án phí theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- + Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc T trình bày: Bị cáo T thuộc hộ cận nghèo, đang nuôi con nhỏ, lao động chính trong gia đình, bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử cho bị cáo T 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc T và bị cáo Nguyễn Hữu Đ khai nhận: Ngày 27/7/2023, bị cáo T chủ động rủ bị cáo Đ tìm tài sản để lấy trộm thì bị cáo Đ đồng ý, sau đó bị cáo T và bị cáo Đ đã lén lút lấy trộm 01 (một) cái bàn tròn bằng kim loại, màu trắng, mặt bàn có đường kính 113cm của bị hại ông Hồ Văn Hoài T3 và bà Dương Thị N1, có giá trị là 1.980.000 đồng. Ngày 28/7/2023, bị cáo T chủ động rủ bị cáo Đ tìm tài sản để lấy trộm thì bị cáo Đ đồng ý, bị cáo T và bị cáo Đ tiếp tục lén lút lấy trộm 02 (hai) cái bàn tròn bằng kim loại, màu trắng, mặt bàn có đường kính 112cm của bị hại ông Trịnh Văn S và bà Bùi Thị P, có giá trị là 2.160.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản bị cáo T và bị cáo Đ đã chiếm đoạt vào ngày 27/7/2023 và ngày 28/7/2023 là 4.140.000 đồng. Xét thấy, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ được và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Ngọc T và bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Bị cáo T và bị cáo Đ giữ vai trò là người thực hành.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được luật hình bảo vệ, đó là quyền sở hữu về tài sản. Các bị cáo vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân, các bị cáo lại không tích cực lao động sản xuất để có thu nhập hợp pháp, mà có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác làm của riêng mình. Vì thế cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt nghiêm để cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo T thuộc diện hộ cận nghèo, bị cáo Đ không có nghề nghiệp, nên miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
- Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét giải quyết.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Huỳnh Thị L không yêu cầu các bị cáo T và Đ trả lại số tiền 800.000 đồng, nên không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Trong quá trình điều tra làm rõ ông Nguyễn Văn H và bà Đặng Thị Lệ E là chủ sử dụng hợp pháp xe mô tô biển số 64H1-027.32, nhưng ông H và bà E không biết bị cáo T sử dụng xe 64H1-027.32 để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên trả lại ông Nguyễn Văn H và bà Đặng Thị Lệ E 01 (một) xe mô tô biển số 64H1-027.32, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: NOUVO, nàu: Đen – Đỏ, số máy: 5P11-220444, số khung: 110AY-220440, xe cũ đã qua sử dụng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) và bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
[8] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[9] Xét, đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T là có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo T.
[10] Về án phí:
- Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Ngọc T, do bị cáo T thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn tiền án phí theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
- - Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
- - Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bị hại không yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Huỳnh Thị L không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
- - Căn cứ điểm b Điều 46; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại ông Nguyễn Văn H và bà Đặng Thị Lệ E 01 (một) xe mô tô biển số 64H1-027.32, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: NOUVO, nàu: Đen – Đỏ, số máy: 5P11-220444, số khung: 110AY-220440, xe cũ đã qua sử dụng.
- (Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09/11/2023)
- - Căn cứ Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) và bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về án phí:
- - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Ngọc T.
- - Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo được quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Bích |
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
