|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 04 - 01 - 2024
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thái Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Phượng.
Bà Trần Thúy Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Dương Hồng Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 168/2023/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị K, sinh năm 2001;
Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
- Bị đơn: Ông Lâm P, sinh năm 1997;
Nơi cư trú: Ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị K trình bày:
Vào năm 2020, bà Trần Thị K cùng ông Lâm P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tiến hành thủ tục đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 63, ngày 25/5/2020. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bên gia đình bà Trần Thị K tại Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Cuộc sống hạnh phúc nhưng chưa có con chung và không có tài sản chung, không có nợ chung. Tuy nhiên đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ông Lâm P về sống bên gia đình của cha mẹ ruột tại ấp D cùng xã B cho đến nay và không còn quan tâm đến bà Trần Thị K.
Quá trình chung sống bà Trần Thị K và ông Lâm P không có con chung, không tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung.
Nay bà Trần Thị K yêu cầu Tòa Án giải quyết:
- - Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Lâm P.
- - Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bà Trần Thị K đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm có:
- + Căn cước công dân tên Trần Thị K (bản đối chiếu);
- + Giấy chứng nhận kết hôn;
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cũng như hỗ trợ cho nguyên đơn trong việc gửi các tài liệu chứng cứ cho ông Lâm P. Nhưng ông Lâm P thường xuyên không có mặt tại nhà và có bà Triệu Thị H là mẹ ruột ngụ cùng địa chỉ nhận thay. Do đó việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 177 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên ông Lâm P không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án theo giấy triệu tập.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ chồng, con trong vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay,
* Nguyên đơn bà Trần Thị K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về hôn nhân yêu cầu ly hôn với ông Lâm P. Bà Trần Thị K xác định vợ chồng không có con chung, không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Lâm P vắng mặt.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 92, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị K đối với ông Lâm P. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét. Nguyên đơn là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin được miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 09/10/2023, bà Trần Thị K yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lâm P có nơi cư trú tại: Ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
[2] Về xét xử vắng mặt đối với đương sự: Bị đơn ông Lâm P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Lâm P.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị K về việc ly hôn.
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị K cùng ông Lâm P kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 63 ngày 25/5/2020. Theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị K và ông Lâm P là hợp pháp.
[3.2] Theo trình bày của bà Trần Thị K: Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống bên gia đình vợ tại Ấp Bưng Long, xã B. Cuộc sống hạnh phúc đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ông Lâm P về sống bên gia đình của cha mẹ ruột tại ấp D cùng xã B cho đến nay và không còn quan tâm đến bà Trần Thị K và sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Hội đồng xét xử xét thấy rằng trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lâm P không có ý kiến hay phản đối những tình tiết, sự kiện trên. Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Bà Trần Thị K đã xác định cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn được và vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng bà Trần Thị K, ông Lâm P hàn gắn tình cảm, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay ông Lâm P đều vắng mặt. Vì vậy Tòa án không tổ chức được phiên hòa giải để các bên hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị K cho bà Trần Thị K được ly hôn với ông Lâm P.
[2.3] Về con chung: Bà Trần Thị K xác định thời gian chung sống, vợ chồng bà Trần Thị K và ông Lâm P không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[3] Về tài sản chung: Bà Trần Thị K xác định không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Về nợ chung: Bà Trần Thị K xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 trong vụ án ly hôn nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, bà Trần Thị K là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin được miễn án phí và được chấp nhận theo điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó, bà Trần Thị K được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000605 ngày 08/11/2023. Ông Lâm P không phải chịu án phí sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Trần Thị K có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với ông Lâm P có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
[7] Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú phát biểu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, Điều 235, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ Điều 51 khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị K.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị K được ly hôn với ông Lâm P.
- Về con chung: Bà Trần Thị K xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung: Bà Trần Thị K xác định không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Bà Trần Thị K xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị K là người dân tộc thiểu số sống ở cùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin được miễn án phí và được chấp nhận miễn án phí nên được nhận lại số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000605, ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Ông Lâm P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị K có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án và ông Lâm P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Thái Ngọc |
Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn
- Số bản án: 02/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K
