Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Số: 02/2024/HS-ST

Ngày 03/01/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Nguyễn Thị Cảnh

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Hà Thị Minh Phượng

Ông Huỳnh Hưng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hồng Lĩnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 123/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

VÕ TRẦN NGỌC T1, sinh ngày 27/11/1993 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi

ĐKNKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở: K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Ngọc Đ và bà Trần Thị Cẩm H; có vợ là Trần Thúy T (sinh năm 1997) và có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Chưa;

Bị cáo bị bắt giam ngày 23/5/2023, hiện đang bị tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Võ Trần Ngọc T1: Luật sư Nguyễn T2, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Có mặt.

* Bị hại: Ông Nguyễn Xuân C, sinh năm 1992; Nơi cư trú: K đường T, tổ B phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Hiện đang chấp hành án tại Trại giam K – Bộ C2. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Hữu C1, sinh năm 1950; Nơi cư trú: K T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

  1. Ông Dương H1, sinh năm 1969; nơi cư trú: K T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  2. Ông Lê Tường H2, sinh năm 1983; nơi cư trú: K N, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  3. Bà Trần Thúy T, sinh năm 1997; nơi cư trú: K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 21/01/2023, Võ Trần Ngọc T1 đang chơi bầu cua tại trước quán cà phê số E đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng và một số người khác. Khi T1 đang cầm cái rung bầu cua thì Nguyễn Xuân C đứng ngoài nói dừng lại không cho chơi nữa, nên T1 nói “Để tôi rung một ván nữa rồi nghỉ” vừa nói xong thì C dùng chân đá vào mặt T1 nhưng không gây thương tích gì, rồi nắm cổ áo T1 thì được mọi người can ngăn, T1 đã bỏ về nhà tuy nhiên C vẫn tiếp tục dùng gạch và gáo dừa khô ném về phía T1 nhưng không trúng.

Khi T1 về nhà tại số K đường T, phường H, quận C lấy ghế ngồi trước sân, khoảng 15 phút sau C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43G1-398.87 đến dừng trước cổng nhà T1 rồi đi vào trong sân tiếp tục thách thức T1 “chừ mi ưng răng”. Do lúc này vợ T1 đang bồng con đứng gần đó, T1 sợ C tiếp tục đánh mình nên chạy đến chậu hoa ở góc cổng, lấy 01 con dao dài 30cm (dùng để xới đất trồng cây) cầm trên tay rồi lui về phía vợ con đang đứng, thấy T1 cầm dao C tiếp tục thách thức “M chém đi, mi chém đi” và tiến đến chỗ T1 đang đứng, do bực tức vì bị C nhiều lần gây sự, tấn công nên T1 đã dùng dao chém 01 nhát vào vùng thái dương bên trái - gò má trái của C theo hướng từ trên xuống dưới, C bị thương nên lùi lại tay phải vịn vào trụ cổng nhà T1, tay trái chặn vết thương, đầu hơi cuối chếch vào sân nhà. Lúc này T1 tiến lại gần tiếp tục chém 01 nhát vào vùng đầu phía sau, bên trái (gần đỉnh đầu) của C theo hướng từ trên xuống dưới, C quay đầu bỏ chạy thì T1 với theo chém thêm một nhát sượt vào vùng phía sau đầu C theo hướng từ trên xuống dưới. Khi thấy C đã bỏ chạy xa thì T1 không đuổi theo.

* Tang tài, vật thu giữ:

  • - 01 con dao dài 28,1cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng sáng dài khoảng 16,3cm, phần rộng nhất 4,5cm, mũi nhọn, trên có chữ KIWI–BRAND và “MADE IN THAILAND”; phần cán gỗ dài 11,8cm; phần rộng nhất 2,9cm.
  • - 01 xe mô tô màu cam đen biển kiểm soát 43G1-398.87

* Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 264/KL-KTHS ngày 06/3/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Đà Nẵng xác định: Nguyễn Xuân C bị đa vết thương vùng đầu mặt đã được điều trị. Hiện tại có các thương tích sau:

  • - Sẹo vùng thái dương – gò má trái: 06%.
  • - Sẹo vùng đỉnh trái: 01%.
  • - Sẹo vùng chẩm trái: 02%.
  • - Mẻ bản ngoài xương sọ vùng thái dương trái: 06%..
  • - Mẻ bản ngoài xương sọ vùng đỉnh trái: 05%.
  • - Gãy cung tiếp gò má trái, không ảnh hưởng chức năng: 08%.

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/219/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Xuân C tại thời điểm giám định là 25%.

Các tổn thương tại vùng đầu mặt do vật sắc gây nên.

Tại bản Cáo trạng số 148/CT-VKSĐN-P2 ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Võ Trần Ngọc T1 về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Võ Trần Ngọc T1 về tội “Giết người” như cáo trạng số 148/CT-VKSĐN-P2 ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Trần Ngọc T1 mức án từ 05 năm đến 06 năm tù.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Trần Ngọc T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Luật sư Nguyễn T2 bào chữa cho bị cáo Võ Trần Ngọc T1 không thống nhất về tội danh “Giết người” mà Cáo trạng đã truy tố bị cáo mà cho rằng hành vi của bị cáo có dấu hiệu của tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”. Bị cáo không có ý thức chủ động tấn công và không có ý thức tước đoạt mạng sống của bị hại. Bị cáo bị kích động về tinh thần, trước đó bị hại cũng đã từng đánh bị cáo, nay lại tiếp tục nên bị cáo ở trong tình trạng không hoàn toàn tự chủ, kiềm chế được bản thân do sự bị kích động mạnh của bị hại gây nên và dẫn tới hành vi phạm tội, bị cáo không phạm tội Giết người.

Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại; người bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình,...để miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, luật sư bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo Võ Trần Ngọc T1 trong quá trình điều tra và tại phiên toà; Lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát; Luận cứ, bào chữa của Luật sư cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 10 giờ ngày 21/01/2023 (tức ngày 30 Tết), tại trước quán cà phê số E đường T, Võ Trần Ngọc T1 đang rung bầu cua thì Nguyễn Xuân C nói không cho chơi nữa, khi T1 nói để tôi rung một ván nữa rồi nghỉ thì C có hành vi dùng chân đá vào mặt và nắm cổ áo T1; sau khi được mọi người can ngăn, T1 bỏ đi về, tuy nhiên C vẫn tiếp tục dùng gạch và gáo dừa đuổi theo ném T1 nhưng không trúng. Khoảng 15 phút sau, C lại tiếp tục tới tận nhà T1 và thách thức, dẫn đến T1 bực tức, đồng thời sợ C tiếp tục đánh mình, T1 đã lấy 01 con dao (dài 28,1cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng sáng dài khoảng 16,3cm, phần rộng nhất 4,5cm, mũi nhọn) ở gốc cây ngoài sân chém liên tiếp 03 nhát từ trên xuống vào vùng đầu (01 nhát vào vùng thái dương bên trái - gò má trái, 01 nhát vào vùng đỉnh đầu phía sau – bên trái và 01 nhát vào vùng phía sau đầu) của Nguyễn Xuân C, làm C bị mẻ bản ngoài xương sọ vùng thái dương, mẻ bản ngoài xương sọ vùng đỉnh trái, gãy cung tiếp gò má trái, tỷ lệ thương tổn cơ thể là 25%.

Hành vi trên của bị cáo Võ Trần Ngọc T1 đã phạm vào tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo không chủ động chém người bị hại, không có ý thức tước đoạt tính mạng người bị hại, thực hiện hành vi gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nên bị cáo không phạm tội “Giết người” như Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy sự việc xô xát giữa bị cáo và người bị hại tại trước quán cà phê 548 đường T đã được mọi người can ngăn, bị cáo đã về nhà. Khoảng 15 phút sau người bị hại mới đến nhà bị cáo, không mang theo hung khí gì, chỉ có lời nói thách thức bị cáo “Mi chém đi, mi chém đi” và tiến đến chỗ bị cáo chứ chưa có động thái, cử chỉ gì đánh bị cáo hay vợ con bị cáo nhưng bị cáo đã dùng dao chém liên tiếp 03 nhát theo hướng từ trên xuống, trúng vùng mặt và đầu người bị hại, dẫn đến người bị hại bị mẻ bản ngoài xương sọ vùng thái dương, mẻ bản ngoài xương sọ vùng đỉnh trái, gãy cung tiếp gò má trái, tỷ lệ thương tổn cơ thể là 25% nên không thể nói bị cáo không chủ động chém bị hại và không có ý thức tước đoạt sinh mạng của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là hết sức nguy hiểm, dùng hung khí chém xả từ trên xuống đầu người bị hại liên tiếp nhiều nhát. Việc bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận luận cứ bào chữa của Luật sư. Vì bị hại có lỗi trước, đã vô cớ đánh bị cáo tại trước quán cà phê, sau đó còn đến nhà bị cáo và tiến đến gần chỗ bị cáo tiếp tục thách đố dẫn đến việc bị cáo phạm tội nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:

Chỉ vì trước đó người bị hại đánh và tiếp tục đến nhà gây sự, thách đố, bị cáo đã bức xúc, dùng 01 con dao là hung khí nguy hiểm chém liên tiếp 03 nhát vào vùng đầu người bị hại (là vị trí nguy hiểm, xung yếu trên cơ thể). Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Nên đối với bị cáo phải xử phạt thỏa đáng, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại số tiền 40.000.000 đồng nhằm khắc phục hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Hậu quả người bị hại không chết nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt”. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Mặt khác, nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội của bị cáo xuất phát từ việc người bị hại có lỗi trước, đã dùng chân đá vào mặt bị cáo, đuổi theo dùng gạch và gáo dừa khô ném bị cáo, đồng thời sau đó đến nhà bị cáo gây sự, thách thức vào thời điểm ngày 30 tết. Quá trình điều tra, người bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Do đó Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 57 Bộ luật Hình sự và áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi lượng hình, xử phạt bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt cũng thỏa đáng.

[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị cáo Võ Trần Ngọc T1 đã bồi thường cho người bị hại được số tiền 40.000.000 đồng. Người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nhưng trong đơn xin xét xử vắng mặt, người bị hại yêu cầu buộc bị cáo phải bồi thường thêm một khoản tiền để sau khi ra tù bị hại đi thẩm mỹ vết sẹo trên mặt. Tại phiên tòa bị cáo và gia đình bị cáo đã đồng ý bồi thường thêm cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị cáo phải bồi thường thêm cho người bị hại số tiền 10.000.000 đồng ngoài số tiền 40.000.000 đồng mà gia đình bị cáo đã bồi thường.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 con dao dài 28,1cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng sáng dài khoảng 16,3cm, phần rộng nhất 4,5cm, mũi nhọn, trên có chữ KIWI–BRAND và “MADE IN THAILAND”; phần cán gỗ dài 11,8cm; phần rộng nhất 2,9cm là của ông Trần Hữu C1, ông C1 không yêu cầu nhận lại, xét thấy cần tịch thu để tiêu hủy.
  • - Đối với xe mô tô màu cam đen BKS: 43G1-398.87 do Nguyễn Xuân C đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông C là có cơ sở, Hội đồng xét xử không xem xét gì thêm.

[6] Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với hành vi Võ Trần Ngọc T1 chơi bầu cua nhưng không thắng thua bằng tiền nên cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự là có cơ sở.

[7] Về án phí: Bị cáo Võ Trần Ngọc T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

I. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Võ Trần Ngọc T1 phạm tội “Giết người”.

II. Về hình phạt:

Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt:

Bị cáo Võ Trần Ngọc T1: 04 (B) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 23/5/2023.

III. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Võ Trần Ngọc T1 tiếp tục bồi thường cho Nguyễn Xuân C số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu thêm khoản lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự. Các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

IV. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 28,1 cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng sáng dài khoảng 16,3cm, phần rộng nhất 4,5cm, mũi nhọn, trên có chữ KIWI-BRAND và “MADE IN THAILAND”, phần cán gỗ dài 11,8cm, phần rộng nhất 2,9cm;

(Vật chứng trên hiện đang được Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2023)

V. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Võ Trần Ngọc T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

VI. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - VKSND CC tại Đà Nẵng;
  • - Phòng HSNV CATPĐN;
  • - Cục THADS TP Đà Nẵng;
  • - Trại tạm giam công an TP.Đà Nẵng;
  • - Sở tư pháp thành phố Đà Nẵng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Thị Cảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 03/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự sơ thẩm - tội giết người

  • Số bản án: 02/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ ngày 21/01/2023 (tức ngày 30 Tết), tại trước quán cà phê số E đường T, Võ Trần Ngọc T1 đang rung bầu cua thì Nguyễn Xuân C nói không cho chơi nữa, khi T1 nói để tôi rung một ván nữa rồi nghỉ thì C có hành vi dùng chân đá vào mặt và nắm cổ áo T1; sau khi được mọi người can ngăn, T1 bỏ đi về, tuy nhiên C vẫn tiếp tục dùng gạch và gáo dừa đuổi theo ném T1 nhưng không trúng. Khoảng 15 phút sau, C lại tiếp tục tới tận nhà T1 và thách thức, dẫn đến T1 bực tức, đồng thời sợ C tiếp tục đánh mình, T1 đã lấy 01 con dao (dài 28,1cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng sáng dài khoảng 16,3cm, phần rộng nhất 4,5cm, mũi nhọn) ở gốc cây ngoài sân chém liên tiếp 03 nhát từ trên xuống vào vùng đầu (01 nhát vào vùng thái dương bên trái - gò má trái, 01 nhát vào vùng đỉnh đầu phía sau – bên trái và 01 nhát vào vùng phía sau đầu) của Nguyễn Xuân C, làm C bị mẻ bản ngoài xương sọ vùng thái dương, mẻ bản ngoài xương sọ vùng đỉnh trái, gãy cung tiếp gò má trái, tỷ lệ thương tổn cơ thể là 25%.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger