Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 02/2024/HS-ST

Ngày: 03/01/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Kim Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phạm Thành Trại

2/ Ông Nguyễn Đức Duy

-Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Phục - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Ông Duy Ngọc Thái - Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 143/2023/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1991 tại tỉnh Tiền Giang

Tên gọi khác: Sáu Chùa

Nơi cư trú: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang

Nghề nghiệp: không

Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D và bà Lê Thị Đ; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: 01 lần

Ngày 16/11/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 96/2021/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/9/2022, chưa xóa án tích.

Tiền sự: 01 lần

Ngày 26/10/2021 bị Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quyết định số 354/QĐ-XPHC, bị cáo chưa đóng phạt.

Nhân thân:

Ngày 19/8/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 72/2014/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/3/2015, chấp hành xong dân sự ngày 08/12/2014.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/6/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh T (có mặt).

- Bị hại: Nguyễn Văn L, sinh năm 1987 (có mặt)

Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Huỳnh Thành N, sinh năm 2001 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang

- Người làm chứng: Nguyễn Văn L1, sinh năm 1976 (có mặt)

Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh T và Nguyễn Văn L có mâu thuẫn với nhau trong chuyện tiền bạc. Vào khoảng 21 giờ ngày 03/02/2023, T mượn con dao tự chế (cán bằng gỗ chiều dài khoảng 20cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 50cm, mũi bằng) của Nguyễn Huỳnh Thành N rồi điều khiển xe mô tô hai bánh hiệu Wave, biển số 63X1-6030 để tìm chém Lên. Khi đến cách nhà của L, T đậu xe bên ngoài đường rồi đi bộ vào, T phát hiện L đang đi bộ hướng từ nhà ra nên dùng dao tự chế mang theo chém một cái trúng vào tay phải của L gây thương tích. Sau đó, L có đơn yêu cầu xử lý hình sự.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 10 giờ ngày 16/4/2023 ghi nhận: “Hiện trường nơi xảy ra sự việc tại đường đi công cộng tọa lạc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Hiện trường tiếp giáp các hướng gồm: Hướng Bắc tiếp giáp vườn Nguyễn Văn T1; H tiếp giáp vườn Mai Văn H; H cách 25m là nhà Nguyễn Văn B. Tiến hành khám nghiệm hiện trường ghi nhận:... Từ vị trí 01 đi thẳng về Hướng Tây 25m là vị trí bụi cỏ nằm bên Hướng B đường, kiểm tra khu vực này không phát hiện dấu vết gì...”.

Vật chứng, đồ vật thu giữ, xử lý:

  • 01 (Một) cái áo thun ngắn tay màu xanh, phía trên túi áo bên trái có chữ “FREEVIEW” màu trắng.
  • 01 (Một) cái quần ngắn màu đen, phía dưới ống quần bên trái có chữ “WOLE” màu trắng.
  • 01 (Một) dép kẹp màu xanh đen.
  • 01 (Một) cái nón vải màu đen, trên nón có chữ “adidas” màu trắng.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 100/2023/KLTTCT-TTPY ngày 21/3/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận về thương tích của Nguyễn Văn L như sau:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám giám định:

  • + Sẹo vết thương trùng vết mổ mặt lưng bàn tay phải.
  • + Sẹo vết mổ mặt lưng đốt 1, 2 ngón II tay phải.
  • + Sẹo vết mổ mặt lưng liên đốt 1, 2 ngón III tay phải.
  • + Đứt gân duỗi ngón II, III, IV, V đã phẫu thuật di chứng: Cứng khớp liên đốt 1, 2 ngón II tay phải. Cứng khớp liên đốt 1, 2 ngón III tay phải.
  • + Gãy xương bàn IV, xương bàn V tay phải.
  • + Gãy xương đốt gần ngón II, III tay phải.

- Kết quả cận lâm sàng:

  • + Gãy xương đốt gần ngón II, III và xương bàn IV, xương bàn V bàn tay phải đang kết hợp xương.

2. Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn L là: 19% (Mười chín phần trăm). Trong đó:

  • + Sẹo vết thương trùng vết mổ mặt lưng bàn tay phải. Tỷ lệ: 02% (Hai phần trăm).
  • + Sẹo vết mổ mặt lưng đốt 1, 2 ngón II tay phải. Tỷ lệ: 01% (Một phần trăm).
  • + Sẹo vết mổ mặt lưng liên đốt 1, 2 ngón III tay phải. Tỷ lệ: 01% (Một phần trăm).
  • +Đứt gân duỗi ngón II, III, IV, V đã phẫu thuật di chứng: Cứng khớp liên đốt 1,2 ngón II tay phải. Tỷ lệ 04% (Bốn phần trăm). Cứng khớp liên đốt 1, 2 bàn ngón III tay phải. Tỷ lệ: 02% (Hai phần trăm).
  • + Gãy xương bàn IV, xương bản V tay phải. Tỷ lệ: 07% (Bảy phần trăm).
  • + Gãy xương đốt gần ngón II tay phải. Tỷ lệ: 02% (Hai phần trăm).
  • + Gãy xương đốt gần ngón III tay phải. Tỷ lệ: 02% (Hai phần trăm).
  • - Các sẹo vết thương trùng vết mổ mặt lưng bàn tay phải. Đứt gân duỗi ngón II, III, IV, V đã phẫu thuật di chứng: Cứng khớp liên đốt 1, 2 ngón II tay phải. Cứng khớp liên đốt 1, 2 ngón III tay phải. Gãy xương bàn IV, xương bàn V tay phải. Gãy xương đốt gần ngón II, III tay phải. Do vật sắc gây nên.
  • - Sẹo vết mổ mặt lưng đốt 1, 2 ngón II tay phải. Sẹo vết mổ mặt lưng liên đốt 1, 2 ngón III tay phải. Do phẫu thuật gây nên.

Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKSCT ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo qui định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời thừa nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng và không thay đổi. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, có người thân có công với cách mạng, có tình tiết tăng nặng do có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 32, 38, 50 xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điều 47 Bộ luật hình sự

Tịch thu tiêu huỷ: 01 cái áo thun ngắn tay màu xanh, phía trên túi áo bên trái có chữ “FREEVIEW” màu trắng; 01 cái quần ngắn màu đen, phía dưới ống quần bên trái có chữ “WOLE” màu trắng; 01 đôi dép kẹp màu xanh đen và 01 cái nón vải màu đen, trên nón có chữ “adidas” màu trắng.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 590 Bộ luật dân sự đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Lên chi phí điều trị tổng cộng là 27.200.000 đồng, gia đình bị cáo đã nộp 15.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành nên cần buộc bị cáo bồi thường tiếp 12.200.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Huỳnh Thành N vắng mặt không tham dự phiên tòa. Xét sự vắng mặt của anh N không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra truy tố xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận khoảng 21 giờ ngày 03/02/2023 tại đường công cộng thuộc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang bị cáo đã có hành vi dùng dao tự chế chém vào tay phải của bị hại Nguyễn Văn L gây thương tích. Xét lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết luận giám định pháp y. Bị cáo chỉ vì mâu thuẫn tiền bạc với bị hại mà đã dùng dao tự chế là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại, theo kết quả giám định pháp y tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại là 19%. Do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích” qui định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại, mà còn ảnh hưởng đến khả năng vận động và sức khỏe của bị hại về lâu dài, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân. Do vậy xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo với mức án thật nghiêm khắc. Tuy nhiên để có một mức án cho phù hợp đối với bị cáo, cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

[5] Xét bị cáo có 01 tiền án, ngày 16/11/2021 bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 16/9/2022 chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 tiền sự, ngày 26/10/2021 bị công an huyện C xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo có nhân thân xấu, ngày 19/8/2014 đã bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, cho thấy bị cáo không sửa đổi mà vẫn tiếp tục phạm tội, tuy nhiên xét quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội của mình, đã tác động gia đình bồi thường một phần chi phí điều trị thương tích cho bị hại và tại phiên toà bị cáo cũng chấp nhận bồi thường tiếp theo yêu cầu của bị hại, bị cáo có bà ngoại được tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam Anh Hùng, có cậu ruột là liệt sĩ. Do vậy cần áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem đây là tình tiết để giảm nhẹ phần nào mức án cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đủ cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng để phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay.

[6] Đối tượng Nguyễn Huỳnh Thành N có cho bị cáo mượn dao và bị cáo dùng dao này để gây thương tích cho bị hại, khi mượn dao bị cáo không nói mượn dể làm gì, N cũng không biết bị cáo dùng dao để chém bị hại nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự đối với N là có cơ sở.

[7] Về vật chứng: 01 cái áo thun ngắn tay màu xanh, phía trên túi áo bên trái có chữ “FREEVIEW” màu trắng; 01 cái quần ngắn màu đen, phía dưới ống quần bên trái có chữ “WOLE” màu trắng; 01 đôi dép kẹp màu xanh đen và 01 cái nón vải màu đen, trên nón có chữ “adidas” màu trắng. Đây là trang phục của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[8] Đối với con dao tự chế bị cáo khai có chiều dài khoảng 20cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 50cm, mũi bằng là hung khí gây thương tích cho bị hại sau khi gây án bị cáo đã ném bỏ vào vườn nhà người dân gần đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an Huyện C, tỉnh Tiền Giang đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[9] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên toà, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị và công lao động, cụ thể: Chi phí điều trị 7.000.000 đồng, tiền thuê xe đi bệnh viện 2.400.000 đồng, chi phí ăn uống của người bệnh và người nuôi bệnh là 2.800.000 đồng (200.000/ngày/1người x 07 ngày), chi phí bồi dưỡng sau phẫu thuật là 15.000.000 đồng, tổng cộng là 27.200.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, xét tự nguyện bồi thường của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị hại 15.000.000 đồng, bị cáo đã nộp tiền bồi thường tại Chi cục Thi hành án huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Do đó cần buộc bị cáo bồi thường tiếp cho bị hại 12.200.000 đồng.

Đối với chi phí điều trị sau phẫu thuật tay (mổ lấy inox), tại toà bị hại đồng ý khi nào điều trị xong có hoá đơn chứng từ sẽ khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác để yêu cầu bồi thường nên Hội đồng tách ra không giải quyết trong vụ án này.

[9] Xét quan điểm luận tội và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo NguyễnNguyễn Thanh T án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo NguyễnNguyễn Thanh T “Cố ý gây thương tích”

Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134, điều 38, 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo NguyễnNguyễn Thanh T) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 07/6/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo NguyễnNguyễn Thanh Tng cho bị hại NguyễnNguyễn Văn Ln 27.200.000 đồng, bị cáo đã nộp bồi thường 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang theo biên lai thu số 0003455 ngày 27/12/2023, bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho bị hại 12.200.000 đồng (mười hai triệu hai trăm ngàn đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày anh Lên cóL cầu Thi hành án nếu bị cáo chậm trả tiền còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo qui định tại khoản 2 điều 357 Bộ luật dân sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điều 47 Bộ luật hình sự

Tịch thu tiêu huỷ: 01 cái áo thun ngắn tay màu xanh, phía trên túi áo bên trái có chữ “FREEVIEW” màu trắng; 01 cái quần ngắn màu đen, phía dưới ống quần bên trái có chữ “WOLE” màu trắng; 01 đôi dép kẹp màu xanh đen và 01 cái nón vải màu đen, trên nón có chữ “adidas” màu trắng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/01/2024 tại Chi cục Thi hành án án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 610.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Công an huyện Châu Thành, tỉnh TG;
  • - VKSND huyện Châu Thành, tỉnh TG;
  • - THADS huyện Châu Thành, tỉnh TG;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TG;
  • - Người tham gia TT;
  • - lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Kim Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 03/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 02/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger