|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày: 02 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đô;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Điệp;
2. Bà Nguyễn Thị Phượng;
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Kim Xoa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 tháng 12 năm 2023 và ngày 02 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:
- Họ và tên Trần Thị T, sinh ngày 01/01/1960; tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nữ; Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2 (đã chết); Chồng tên: Lê Văn C (đã chết); Bị cáo có 04 người con, con lớn sinh năm 1979, con nhỏ sinh năm 1987; Bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền sự: Vào ngày 09/01/2023, Công an xã B, huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền”. Chấp hành xong vào ngày 02/03/2023; Tạm giữ, tạm giam: Không có; Biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Thị M, sinh ngày 01/01/1962; tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nữ; Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông Nguyễn Văn T3 (đã chết) và bà Văn Thị B (đã chết); Chồng tên: Lê Ngọc H, sinh năm 1961; Bị cáo có 01 người con sinh năm 1988; Bị cáo có 06 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền sự: Vào ngày 09/01/2023, Công an xã B, huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền”. Chấp hành xong vào ngày 14/01/2023; Tạm giữ, tạm giam: Không có; Biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. -
Nguyễn Thị M1, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị T và Nguyễn Thị M cùng ngụ ấp B, xã B, huyện C có tiền sự về hành vi đánh bạc (vào ngày 09/01/2023 bị Công an xã B, huyện C xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc).
Vào trưa ngày 31/01/2023, Trần Thị T, Nguyễn Thị H1 và Trần Thị M2 đang đánh bạc ăn thua bằng tiền, bằng hình thức chơi đánh bài tứ sắc tại trại nuôi ếch của bà H1 (bài do bà H1 cung cấp) với 02 cách tính như sau: T4 quan thì người thua phải chung cho người thắng số tiền 10.000 đồng; nếu thắng trơn thì người thua chung cho người thắng số tiền 5.000 đồng. Khi T, H1 và M2 chơi được 03 ván thì Nguyễn Thị M đến cùng tham gia, nhưng bà T không đồng ý cho bà M tham gia thêm tụ mới vì chơi 04 tụ sẽ đánh lâu và khó thắng. Thấy vậy, bà H1 rủ bà M hùn chung tụ và mỗi người bỏ ra số tiền 100.000 đồng thì bà M đồng ý nhưng chưa đưa tiền cho bà H1. Lúc này, cả 04 người chơi 03 tụ như lúc đầu ((H1 và M chung một tụ, riêng T và M2 mỗi người chơi riêng một tụ), khi chơi 02 ván đầu bà H1 trực tiếp cầm bài đánh và đã xác định được thắng thua, đến ván thứ 3 bà M đang cầm bài đánh chưa xác định thắng thua thì Công an xã B, huyện C đến bắt quả tang, đồng thời, tạm giữ vật chứng có liên quan gồm: Trên chiếu bạc số tiền 690.000 đồng (Muộn: 390.000 đồng; Tiếp: 200.000 đồng; H1: 100.000 đồng); 05 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng. Ngoài ra, Nguyễn Thị M tự nguyện giao nộp số tiền 100.000 đồng. Sau đó, chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Công an xã B, huyện C tiến hành tiêu hủy 05 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án.
Trong quá trình điều tra và truy tố, các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Thị M đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản làm việc, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, cùng các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 61/CT-VKSHCL, ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố như sau:
Truy tố các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Thị M về tội “Đánh bạc”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đồng thời, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Thị T với mức án từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M với mức án từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên:
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng là tiền dùng vào việc phạm tội.
(Hiện số vật chứng trên Chị cục thi hành án dân sự đang tạm quản lý).
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì. Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Thị M đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 61/CT-VKSHCL ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của các bị cáo.
Các bị cáo T và M đã bị Công an xã B xử lý vi phạm hành chính theo Quyết định số 01/QĐ-XPHC và Quyết định số 03/QĐ-XPHC ngày 09/01/2023 về hành vi đánh bạc trái phép. Nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, các bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh bài tứ sắc ăn thua tiền với nhau từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng tại ấp B, xã B, huyện C thì bị Công an xã B bắt quả tang với số tiền được thu giữ trên chiếu bạc và tiền dùng để đánh bạc là 790.000 đồng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với Biên bản làm việc, lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Thị M đã cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
[4] Xét hành vi của các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Thị M khi thực hiện tội phạm là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Tại phiên tòa, các bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật bị Nhà nước nghiêm cấm, các bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trên nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, mà tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Các bị cáo bất chấp xem thường pháp luật nên đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Chứng tỏ hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.
[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng tình hình trật tự trị an tại địa phương và gây ảnh hưởng xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm mục đích giáo dục các bị cáo trở thành một công dân có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời, có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Trong vụ án, các bị cáo cùng trực tiếp tham gia nhưng không có sự phân công sắp đặt vai trò cho nhau và không chịu sự điều khiển của bất cứ người nào nên chỉ là dạng đồng phạm giản đơn. Các bị cáo cùng trực tiếp tham gia nên có vai trò thực hành như nhau.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Về nhân thân, các bị cáo đều xuất thân là thành phần nhân dân lao động, có trình độ học thức thấp và chưa có tiền án. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, khi lượng hình cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, tại phiên tòa các bị cáo đã rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và cam kết với Hội đồng xét xử sẽ không tái phạm. Nhằm thể hiện bản chất nhân đạo của pháp luật, nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, có ý thức chấp hành pháp luật. Đồng thời, xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định và là người trên 60 tuổi nên Hội đồng xét xử quyết định không khấu trừ thu nhập của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
[8] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đã lớn tuổi, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình xử lý như sau:
Số tiền 400.000 đồng là công cụ phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
(Hiện các vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh đang quản lý).
[10] Về án phí: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do các bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng số 61/CT-VKSHCL ngày 16/11/2023 và bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và xử lý vật chứng vụ án là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận.
[12] Riêng Nguyễn Thị M1 và Nguyễn Thị H1 có tham gia chơi đánh bạc nhưng không đủ định lượng. Công an xã B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Thị M phạm tội “Đánh bạc”
-
Căn cứ pháp luật và hình phạt.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục, người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao án văn.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Do các bị cáo là đối tượng người cao tuổi, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập của các bị cáo.
Giao các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Thị M cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình của các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Thị M có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trong thời gian chấp hành án, các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trường hợp, các bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú phải thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
-
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau:
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng.
(Hiện các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện C đang quản lý).
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Thị M được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm do là người cao tuổi.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Đô |
6
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 02/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
