|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/DS-PT Ngày 08 - 01 - 2024 V/v: Tranh chấp HĐ vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trường Du.
Các Thẩm phán: Ông Vú Đại Long
Ông Mai Văn Thuận
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị Thanh T - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 106/2023/TLPT-DS ngày 30/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn bị kháng cáo, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2023/QĐ-PT ngày 13/12/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần P (Viết tắt OCB) Địa chỉ trụ sở chính: Số D & D, đường L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T1 - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị . Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu T2 - Chức vụ: Giám đốc phòng G (theo văn bản ủy quyền số 66/2023/UQ-HĐQT ngày 30/6/2021 của ông Trịnh Văn T1) . Người được ủy quyền lại: Ông Lê Hữu K, sinh năm 1987 (Theo giấy ủy quyền số 04/2023/UQ-OCB-THN ngày 21/6/2023 của ông Nguyễn Hữu T2) Địa chỉ: Số C, L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, có mặt
- Bị đơn: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1964 ;Số CCCD: [...] và Bà Bùi Thị X, sinh năm 1969; Số CCCD: [...]. Đều cư trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa Bà X có mặt, ông H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
* Do có kháng cáo của Bị đơn Bùi Thị X.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Theo Nguyên đơn trình bày: Theo Hợp đồng tín dụng số 00182/2021 ngày 11/5/2021 được ký kết giữa O chi nhánh T3 - Phòng G và vợ chồng ông Bùi Văn H bà Bùi Thị X, theo hợp đồng này thì ông H bà X vay O chi nhánh T3 - Phòng G số tiền gốc 1.100.000.000₫, (một tỷ, một trăm triệu đồng) thời hạn vay 120 tháng, mục đích vay, vay tiêu dùng, lãi xuất 3 tháng đầu là 10,5%, từ tháng thứ tư điều chỉnh 6 tháng 1 lần theo quy định của HĐTD và KUNN, lãi xuất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, tiền lãi và gốc trả hàng tháng vào ngày vay. Biện pháp cho vay: Cho vay có bảo đảm theo hợp đồng thế chấp số 00182/2021/PBD/HDTC ngày 11/5/2021 đối với thửa đất số 675, tờ bản đồ số 14, diện tích 165,0m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 004638 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị X ngày 26/4/2021. Đến ngày 31/8/2023 bên vay còn dư nợ số tiền là 965.569.357 đồng, trong đó tiền nợ gốc trong hạn 851.600.000đ, gốc quá hạn 45.835.564; Lãi trong hạn là 4.115.678; Lãi quá hạn 64.016.115 đồng. O chi nhánh T3 - Phòng G đã đòi và phối hợp với chính quyền địa phương thông báo nhắc nhở trả nợ đến hạn nhiều lần nhưng bên vay vẫn chây ỳ không trả nợ theo hợp đồng. Nay O chi nhánh T3 - Phòng G yêu Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn giải quyết buộc bên vay vợ chồng ông H bà X phải trả số tiền còn nợ tính đến ngày 31/8/2023 là 966.249.480đồng, trong đó tiền nợ gốc trong hạn là 851.600.000đ, nợ gốc quá hạn tính đến ngày xét xử là 45.835.564đồng; Lãi trong hạn tính đến ngày xét xử là 4.703.632đồng; Lãi quá hạn tính đến ngày xét xử 64.108.284đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi thành toán xong nợ. Trường hợp bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ nợ, đề nghị phát mại tài sản thế chấp là thửa đất số đất số 675, tờ bản đồ số 14, diện tích 165,0m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 004638 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị X ngày 26/4/2021 và tài sản trên đất để ngân hàng thu hồi nợ. Việc bị đơn trình bày sẽ trả nợ đúng theo hợp đồng, nhưng thực tế bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi nhiều kỳ, OCB đã phối hợp với chính quyền nơi bị đơn cư trú thông báo, nhắc nhỏ nợ nhiều lần nhưng bên vay vẫn chây ỳ, không hợp tác, nên không chấp nhận đề nghị của bị đơn
- Bị đơn : Đối với bị đơn bà Bùi Thị X và ông Bùi Văn H, quá trình giải quyết vụ Tòa án cấp sơ thẩm đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H bà X, nhưng ông H bà X không có ý kiến gì cũng không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông H bà X.
- Tại phiên tòa sơ thẩm: ông H vắng mặt lần thứ hai, bà X có mặt và thừa nhận vợ chồng bà có vay ngân hàng O chi nhánh T3 số tiền gốc với lãi xuất như đại diện Ngân hàng vừa trình bày, khi vay vợ chồng bà có thế chấp tài sản như hợp đồng thế chấp tài sản số 182 ngày 11/5/2021 là đúng, qúa trình thực hiện hợp đồng cơ bản vợ chồng bà thực hiện trả nợ gốc và lãi đúng định kỳ theo theo thuận trong hợp đồng, tuy nhiên thời gian gần đây do điều kiện kinh tế khó khăn nên việc trả nợ chưa đầy đủ, đúng theo định kỳ nay vợ chồng bà cam sẽ kết trả đầy đủ tiền gốc, tiền lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng, trường hợp không trả đầy đủ, đồng ý phát mại tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp và các văn bản cam kết kèm theo để ngân hàng thu hồi nợ, đề nghị ngân hàng miễn giảm lãi và tiền án phí
Bà đề nghị Tòa án tính lại toàn bộ lãi suất theo đúng quy định của điểm đ, khoản 3 Điều 11 Nghị Định 167/2013/NĐ – CP ngày 12/11/2013. Tiền lãi đã trả thừa hàng tháng thì được trừ vào tiền gốc hàng tháng. Bà không chấp nhận yêu cầu của Công ty Á về tính lãi quá hạn từ ngày 31/5/2020.
* Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn đã quyết định:
Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Căn cứ Điều 463, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự Căn cứ khoản 3 Điều 26, 35, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, và điểm b,c mục II Danh mục án phí, lệ phí kèm theo nghị quyết.
Tuyên bố: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện Ngân hàng thương mại cổ phần P về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” Xử: Buộc bị đơn bà vợ chồng ông Bùi Văn H bà Bùi Thị X phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần P số tiền nợ là: 966.249.480 đồng (Chín trăm sáu mươi sáu triệu, hai trăm bốn chín nghìn, bốn trăm tám mươi đồng) trong đó tiền nợ gốc trong hạn là 851.600.000₫, nợ gốc quá hạn tính đến ngày xét xử là 45.835.564đồng; Lãi trong hạn tính đến ngày xét xử là 4.703.632đồng; Lãi quá hạn tính đến ngày xét xử 64.108.284 đồng.
Buộc bị đơn bà X ông H tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 31/8/2023) cho đến khi thành toán hết khoản nợ cho Ngân hàng P.
Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp số 00182/2021/PBD/HĐTC ngày 11/5/2021 đối với tài sản là thửa đất số 675, tờ bản đồ số 14, diện tích 165,0m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 004638 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị X ngày 26/4/2021 và tài sản trên đất theo các văn bản cam kết kèm theo hợp đồng.
- Án sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
* Sau khi xét xử bà Bùi Thị X có kháng cáo như sau:
- Ngân hàng O phải cung cấp đầy đủ Hợp đồng cũng như chi tiết trả nợ từ năm 2021 cho đến nay để xem xét lại phần lãi suất;
- Lãi trong Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng O quá cao không hợp lý với Hợp đồng ban đầu và để tạo điều kiện cho gia đình tôi thu xếp trả nợ theo kỳ hạn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện của Nguyên đơn và Bà Bùi Thị X là người kháng cáo thỏa thuận được với nhau về những nội dung gồm:
Về nợ gốc, nợ lại và thời hạn trả nợ: Vợ chồng ông Bùi Văn H bà Bùi Thị X phải có trách nhiệm chung trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần P số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 31/8/2023 là: 966.247.480 đồng (Chín trăm sáu mươi sáu triệu, hai trăm bốn bảy nghìn, bốn trăm tám mươi đồng) trong đó tiền nợ gốc là 897.435.564 đồng; Lãi trong hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 4.703.632đồng; Lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm 64.108.284 đồng. Kể từ ngày 01/9/2023, ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị X phải tiếp tục trả lãi trên số nợ gốc chưa trả theo Hợp đồng tín dụng số 00182/2021 ngày 11/5/2021 cho đến khi trả xong toàn bộ nợ gốc. Thời hạn trả nợ chậm nhất đến ngày 28/02/2024 ông H, bà X phải trả nợ xong cho Ngân hàng thương mại cổ phần P.
Vê xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp chậm nhất đến hết ngày 28/02/2023 mà vợ chồng ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị X không trả nợ, hoặc trả không đầy đủ số tiền trên, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật đối với tài sản thế chấp là đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh hóa, theo Hợp đồng thế chấp số 00182/2021/PBD/HDTC ngày 11/5/2021 là thửa đất số 675, tờ bản đồ số 14, diện tích 165,0m² có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 004638 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị X ngày 26/4/2021 để đảm bảo thi hành án.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa:
- + Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Thư ký đều tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Xét kháng cáo của đương sự: Ông Bùi Văn H là chồng bà X không kháng cáo và toà án đã triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do. Kháng cáo của bà X đề nghị xem xét tính lãi chưa đúng và đủ, không kháng cáo về số tiền nợ gốc, tại phiên toà hôm nay, bà X và đại diện của nguyên đơn thoả thuận được về số tiền gốc, tiền lãi và thời hạn trả nợ cũng như xử lý tài sản thế chấp nếu ông H, bà X trả nợ không đủ như thoả thuận nêu trên, đây là sự tự nguyện giữa các bên đương sự, nên đề nghị chấp nhận sự thoả thuận này. Về ý kiến của đại diện nguyên đơn xem xét lại nội dung xử lý tài sản thế chấp của cấp sơ thẩm, thấy rằng: trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản được ký giữa bà X, ông H và Ngân hàng đều có thoả thuận nội dung cam kết nếu bà X, ông H không trả nợ đủ số tiền nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, tuy nhiên quyết định của bản án sơ thẩm lại tuyên “Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp số 00182/2021/PBD/HĐTC ngày 11/5/2021 đối với tài sản là thửa đất số 675, tờ bản đồ số 14, diện tích 165,0m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 004638 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị X và tài sản trên đất theo các văn bản cam kết kèm theo hợp đồng” là vi phạm tố tụng vì chưa xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp, ảnh hưởng đến quyền lợi của Nguyên đơn trong trường hợp bên bị đơn không thi hành trả nợ đầy đủ. Tuy nhiên, các bên có thoả thuận về xử lý tài sản thế chấp nêu trên không vượt quá yêu cầu khởi kiện, đảm báo đúng quy định nên cần được xem xét chấp nhận.
Từ những phân tích trên, căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Sửa bản án sơ thẩm Công nhận sự thoả thuận về nợ gốc, nợ lãi và thời gian trả nợ và nội dung xử lý tài sản thế chấp giữa Ngân hàng O chi Nhánh T3 và bà Bùi Thị X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến, tranh luận của các đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
[1].Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo, các đương sự không có thỏa thuận được với nhau về các nội dung tranh chấp nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Theo Hợp đồng tín dụng số 00182/2021 ngày 11/5/2021 được ký kết giữa O chi nhánh T3 - Phòng G và vợ chồng ông Bùi Văn H bà Bùi Thị X, theo hợp đồng này thì ông H bà X vay O chi nhánh T3 - Phòng G số tiền gốc 1.100.000.000₫, (một tỷ, một trăm triệu đồng) thời hạn vay 120 tháng, mục đích vay, vay tiêu dùng, lãi xuất 3 tháng đầu là 10,5%, từ tháng thứ tư điều chỉnh 6 tháng 1 lần theo quy định của HĐTD và KUNN, lãi xuất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, tiền lãi và gốc trả hàng tháng vào ngày vay, sau đó sẽ thay đổi lãi vay từng thời điểm theo quy định của Ngân hàng. Việc giao kết hợp đồng tín dụng chỉ bên cho vay có mục đích lợi nhuận, do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp dân sự là đúng. Quá trình giải quyết, ông ông Bùi Văn H đã được Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt, niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải, và niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử đầy đủ và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông H không kháng cáo, chỉ có bà Bùi Thị X kháng cáo và nộp đơn trong thời hạn quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Ông Bùi Văn H đã được Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định.
[2] Xét kháng cáo của bà Bùi Thị X: Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Sau khi ký kết Hợp đồng tín dụng số 00182/2021 ngày 11/5/2021 ký giữa bên vay vợ chồng ông Bùi Văn H, bà Bùi Thị X và Đại diện OCB, ông Bùi Văn H bà Bùi Thị X đã được nhận đủ số tiền cần vay là: 1.100.000.000₫, (một tỷ, một trăm triệu đồng) theo hợp đồng tín dụng, thể hiện tại Khế ước nhận nợ - Khách hàng cá nhân số 00182/2021/PBD/KUNN ngày 12/5/2021 ký giữa bên vay vợ chồng ông Bùi Văn H, bà Bùi Thị X và Đại diện OСВ.
Về thời hạn trả nợ, tại Điều 1 của Hợp đồng tín dụng (mục 2) có quy định thời hạn vay là 120 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân. Tại Điều 5 ( mục 1) của Hợp đồng tín dụng : Trả nợ gốc, nợ lãi và phí theo thoả thuận tại khế ước nhận nợ, lịch trả nợ theo kỳ quy định tại Khế ước nhạn nợ.Tại Điều 1 Khế ước nhận nợ - Khách hàng cá nhân quy định tại Mục 9 trả nợ gốc đối với bên vay cụ thể : Bên vay trả gốc định kỳ hàng tháng vào ngày 15 của tháng. ( gọi là kỳ gốc). Số tiền trả mỗi kỳ là 9.200.000 đồng. Kỳ trả gốc đầu tiên vào ngày 16/06/2021. Tại mục 10 trả nợ lãi: Bên vay trả lãi vay cho OCB định kỳ 01 tháng một lần vào ngày 15 của tháng theo dư nợ thực tế ( gọi là kỳ trả lãi). Kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 15/06/2021.
Tại Điều 6 của Hợp đồng tín dụng cũng quy định trong trường hợp bên vay không có khả năng trả nợ đúng hạn gốc hoặc lãi thì bên vay phải có Giấy đề nghị cơ cấu lại thời hạn trả nợ kèm theo hồ sơ, tài liệu để OCB xem xét nếu được bên cho vay chấp thuận sẽ có văn bản thông báo, nếu bên vay không chấp nhận thì bên vay tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo nội dung đã cam kết.
Tại điểm g Điều 8 của Hợp đồng tín dụng quy định bên cho vay có quyền chấp dứt việc cho vay và thu hồi nợ trước hạn cả gốc và lãi trong trường hợp bên vay vi phạm hợp đồng. Theo lịch trả nợ thì tính đến thời điểm Ngân hàng khởi kiện 30/6/2023 bà X, ông H phải trả tiền gốc là 230.000.000 đồng, tiền lãi là 265.851.098 đồng, nhưng ông H, bà mới thanh toán được 22 kỳ trả gốc, tổng trả gốc là 202.562.436 đồng và trả lãi là. 228.600.069 đồng. Kể từ ngày 14/8/2022 ông H, bà X đều chậm thanh toán lãi, còn vi phạm tổng cộng là 64.688.593 đồng. Ngân hàng O - Chi nhánh T3, Phòng G đã có rất nhiều Thông báo đôn đốc nhắc nợ và nhiều lần lập Biên bản làm việc đối với bên vay. Tuy nhiên kể từ tháng 14/8/2022 đến nay bên vay không trả thêm được đồng nào. Do đó Ngân hàng O có quyền khởi kiện thu nợ trước hạn và được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận buộc ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị X phải trả toàn bộ nợ gốc, lãi cho Ngân hàng là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Tại phiên toà hôm nay, Đại diện của Nguyên đơn và Bà Bùi Thị X là người kháng cáo thỏa thuận được với nhau về những nội dung gồm:
Về nợ gốc, nợ lãi và thời hạn trả nợ: vợ chồng ông Bùi Văn H bà Bùi Thị X phải có trách nhiệm chung trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần P số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 31/8/2023 là: 966.247.480 đồng (Chín trăm sáu mươi sáu triệu, hai trăm bốn bẩy nghìn, bốn trăm tám mươi đồng) trong đó tiền nợ gốc 897.435.564 đồng; Lãi trong hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 4.703.632đồng; Lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 64.108.284 đồng, lãi được tính tiếp theo kể từ ngày 01/9/2023 cho đến khi trả nợ xong. Thời hạn trả nợ: Đến ngày 28/02/2024 phải trả xong toàn bộ gốc và lãi phát sinh.
Về xử lý tài sản thế chấp: Về ý kiến của đại diện nguyên đơn xem xét lại nội dung xử lý tài sản thế chấp của cấp sơ thẩm, thấy rằng: Quyết định của bản án sơ thẩm tuyên: “Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp số 00182/2021/PBD/HĐTC ngày 11/5/2021 đối với tài sản là thửa đất số 675, tờ bản đồ số 14, diện tích 165,0m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 004638 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị X và tài sản trên đất theo các văn bản cam kết kèm theo hợp đồng” là chưa xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp, ảnh hưởng đến quyền lợi của Nguyên đơn trong trường hợp bên bị đơn không thi hành trả nợ đầy đủ. Tuy nhiên, các bên có thoả thuận về xử lý tài sản thế chấp như sau :
“Trong trường hợp đến ngày 28/02/2024 ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị X không trả nợ hoặc trả không đầy đủ số nợ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng O thì Ngân hàng O có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án bán đấu giá tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án”
Ông Bùi Văn H là chồng bà Bùi Thị X không có kháng cáo và vắng mặt tại phiên toà hôm nay. Xét sự thoả thuận giữa bà X và đại diện của Ngân hàng H1 thấy rằng: Số tiền gốc, lãi mà ông H, bà X có nghĩa vụ chung phải trả cho Ngân hàng không thay đổi so với quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung thay đổi thời hạn trả nợ đến ngày 28/02/2024 là có lợi cho bà X và ông H.
Tại hợp đồng thế chấp số 00182/2021/PBD/HĐTC ngày 11/5/2021 đối với thửa đất số 675, tờ bản đồ số 14, diện tích 165,0m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 004638 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị X ngày 26/4/2021, ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị X tự nguyện thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, Hợp đồng thế chấp tài sản được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T là hoàn toàn hợp pháp, phù hợp với nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng như theo hồ sơ ông Bùi Văn H và Bùi Thị X đồng ý nội dung xử lý tài sản thế chấp như trên nếu không trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng, đây là sự tự nguyện giữa các bên đương sự, không bất lợi cho ông Bùi Văn H như kết quả của bản án sơ thẩm, không vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên HĐXX chấp nhận sự thoả thuận này, cũng như ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát, sửa án sơ thẩm về xử lý tài sản thế chấp là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[6] Từ các phân tích trên, HĐXX căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, sủa bản án sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của TAND huyện Triệu Sơn do có tình tiết mới là sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm và được HĐXX chấp nhận.
[7] Về án phí phúc thẩm: Do có lý do sửa bản án sơ thẩm nên Bà Bùi Thị X không phải nộp án phí phúc thẩm .
[8]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463; 466; 468; khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Công nhận sự thoả thuận của các đương sự, sửa bản án sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của TAND huyện Triệu Sơn.
- Vợ chồng ông Bùi Văn H bà Bùi Thị X phải có trách nhiệm chung trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần P số tiền nợ tính đến ngày 31/8/2023 là 966.247.480 đồng (Chín trăm sáu mươi sáu triệu, hai trăm bốn bảy nghìn, bốn trăm tám mươi đồng); trong đó tiền nợ gốc là 897.435.564 đồng; Lãi trong hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 4.703.632đồng; Lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 64.108.284 đồng, lãi được tính tiếp theo kể từ ngày 01/9/2023 cho đến khi trả nợ xong. Thời hạn trả nợ: Đến ngày 28/02/2024 phải trả xong toàn bộ gốc và lãi phát sinh.
định của pháp luật đối với tài sản thế chấp là đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh hóa, theo Hợp đồng thế chấp số 00182/2021/PBD/HDTC ngày 11/5/2021 là thửa đất số 675, tờ bản đồ số 14, diện tích 165,0m² có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 004638 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị X ngày 26/4/2021 để đảm bảo thi hành án.
- Trách nhiệm, nghĩa vụ thi hành án: Đến hết ngày 28/02/2024, Ngân hàng có đơn yêu cầu thi hành án, nếu vợ chồng ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị X không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ khoản tiền phải trả thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền nợ gốc chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 00182/2021 ngày 11/5/2021 tương ứng với thời gian và số tiền nợ gốc chậm trả.
- Về án phí sơ thẩm: Bị đơn bà Bùi Thị X và ông Bùi Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 40,987.484₫ (làm tròn) ( Bốn mươi triệu, chín trăm tám bảy, bốn trăm tám tư đồng)
Hoàn trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng P là 20.102.000 đồng theo biên lai số 000074, ngày 06/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên Bà Bùi Thị X không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà X đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu sơn theo Biên lai số AA/2022/0000153 ngày 26/9/2023 sẽ được khấu trừ vào số tiền án phí sơ thẩm nêu trên;
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trường Du |
9
10
Bản án số 02/2024/DS-PT ngày 08/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hđ vay tài sản
- Số bản án: 02/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng PĐ khởi kiện ông bà H, X trả nợ .
