Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - QUẢNG NGÃI

Bản án số: 02/2026/HS-ST

Ngày: 08-01-2026

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tỷ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Long và bà Chế Thị Mai.

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Trần Quỳnh Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS ngày 26/12/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T, sinh ngày 10 tháng 9 năm 2005 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi thường trú: thôn P, xã N, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 06/06/2025; Con ông Nguyễn Cao T1, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 1980; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo Nguyễn Đức T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Q (Phân trại tạm giam Kon Tum). Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Mai Chiến T2, sinh năm 1996; Có đơn xin xét xử vắng mặt
  2. Chị Thái Thị Mỹ S, sinh năm 1998; Có đơn xin xét xử vắng mặt
  3. Ông Nguyễn Cao T1, sinh năm 1979; Có đơn xin xét xử vắng mặt

Cùng địa chỉ: thôn P, xã N, tỉnh Quảng Ngãi.

  1. Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1990; Địa chỉ: thôn M, xã T, thành phố Hải Phòng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Anh Đặng Xuân N1, sinh năm 2002; Địa chỉ: thôn P, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người chứng kiến: Anh Ngô Tấn V, sinh năm 2004; Địa chỉ: thôn P, xã N, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên khoảng 14 giờ 20 phút ngày 23/8/2025, Nguyễn Đức T (sinh ngày 10/9/2005; trú tại: thôn P, xã N, tỉnh Quảng Ngãi) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34P6 - 4411 đi qua nhà M Chiến Thắng (sinh năm 1996; trú cùng thôn) để mua ma tuý sử dụng. Khi đến nhà T2, T bảo T2 bán cho một gói ma túy thì T2 đồng ý. Sau khi T chuyển khoản cho T2 số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) thì T2 đưa cho T 01 (một) bì ni lông trong suốt, có mép vuốt, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (là ma túy). T cầm bì ma túy vừa mua được bỏ vào miệng rồi đi về. Khi đi đến trước cửa hàng T3 (thôn P, xã N), T dừng xe lại để đổ xăng và lấy bì ma túy từ trong miệng ra, cầm trong lòng bàn tay phải. Cùng lúc này thấy lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra hành chính, do lo sợ bị phát hiện nên T bỏ chạy. T chạy được một đoạn thì thả bì ni lông chứa ma túy đang cầm trong tay phải xuống vỉa hè nhưng bị Cơ quan Công an khống chế, phát hiện và thu giữ bì ni lông chứa chất ma túy nêu trên. Tại đây, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên cơ quan Công an đã tiến hành thu giữ tang vật và đưa về trụ sở Công an xã N để lập biên bản.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Đức T và vật chứng thu giữ khi bắt quả tang, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Mai Chiến T2. Quá trình khám xét đã phát hiện và thu giữ: Trong cặp vải dù màu xanh đặt tại ghế gỗ trong phòng khách 02 (hai) bì ni lông trong suốt có viền màu xanh loại có mép vuốt. Trong ngăn kéo phía trên bàn học ở phòng khách 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt, một đầu được hàn kín, một đầu được cắt chéo, bên trong có bám dính chất tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma tuý). Trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ có 01 (một) bì ni lông trong suốt có viền màu trắng loại mép vuốt, bên trong có bám dính chất tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy), 01 (một) bì ni lông trong suốt có viền màu xanh loại mép vuốt, bên trong có bám dính chất tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy).

Quá trình làm việc Mai Chiến T2 khai nhận: 02 (hai) bì ni lông thu giữ trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ là hai bì đựng ma túy đá mà T2 đã sử dụng hết vứt tại đó, 01 ống nhựa thu giữ trong bàn học ở phòng khách là đoạn ống nhựa T2 dùng để xúc ma túy bỏ vào nỏ để sử dụng, còn 02 bì ni lông thu giữ trong cặp vải dù ở phòng khách là hai bì ni lông đựng ốc vít T2 mua để sửa đồ dùng trong nhà. Chiều ngày 23/8/2025, Nguyễn Đức T có đến nhà trả nợ cho T2 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) và nợ lại 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) do trước đó T có mượn của T2 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). M Chiến Thắng không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Đức T, cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng không có kết quả.

* Vật chứng của vụ án:

  • 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 24116619, bên ngoài túi niêm phong có 03 (ba) hình dấu tròn màu đỏ có nội dung "*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI*" và có các chữ ký ghi tên Nguyễn Hàn N2, Lê Thanh L tại mép dán.
  • 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 24116625, bên ngoài túi niêm phong có 03 (ba) hình dấu tròn màu đỏ có nội dung "*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI*" và có các chữ ký ghi tên Nguyễn Hàn N2 và Hoàng Trường G tại mép dán. Mẫu vật còn lại được đựng trong một túi ni lông, có khối lượng đã trừ bì là 0,125 gam.
  • 01 (một) xe mô tô biển số 34P6-4411, số máy 5C64203068, số khung RLCS5C640AY203059, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn trắng xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động của xe.
  • 01 (một) điện thoại di động dạng cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, số IMEI 1: 864326055860559,số IMEI 2: 864326055860542, bên trong thân máy chứa 01 (một) thẻ sim Viettel số seri: 8984048000051823688, số thuê bao: 0377023252 và 01 (một) điện thoại di động dạng cảm ứng, nhãn hiệu SONY Xperia, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, số IMEI 1: 359906081223914, số IMEI 2: 359906081223922, bên trong thân máy chứa 02 thẻ sim Micro SD đánh số "1" và "2", số thuê bao: 0369568791. Được niêm phong trong túi niêm phong dán kín mã số PS3 24072934, mặt trước có chữ "1232/KL-KTHS, 28/10/2025" và có chữ ký ghi họ và tên Đỗ Công H, Hoàng Trường G.
  • 02 (hai) bì ni lông trong suốt có viền màu xanh loại mép vuốt.

* Ngày 25/8/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q ra Quyết định trưng cầu giám định số C494/QĐ-CSMT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh Q giám định vật chứng là mẫu chất rắn (nghi là ma tuý) đã thu giữ của Nguyễn Đức T.

Tại bản kết luận giám định số: 908/KL-KTHS ngày 29/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, là loại: Methamphetamine, có tổng khối lượng: 0,130 gam.

* Ngày 29/8/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q ra Quyết định trưng cầu giám định số C540/QĐ-CSMT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh Q giám định vật chứng là mẫu chất rắn (nghi là ma tuý) đã thu giữ được của M Chiến Thắng.

Tại bản kết luận giám định số: 966/KL-KTHS ngày 04/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bám dính dạng vết (Kí hiệu M1) được niêm phong trong bì đánh số "01" gửi giám định là ma túy, là loại: Methamphetamine, mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bám dính dạng vết nên không xác định được khối lượng. Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bám dính dạng vết (Kí hiệu M2.1; M2.2) được niêm phong trong bì đánh số "02" gửi giám định là ma túy, là loại: Methamphetamine, mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bám dính dạng vết nên không xác định được khối lượng.

* Ngày 30/9/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q ra Quyết định trưng cầu giám định số C893/QĐ-CSMT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh Q giám định vật chứng là 02 điện thoại đã thu giữ của Nguyễn Đức T.

Tại bản kết luận giám định số: 1232/KL-KTHS ngày 28/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn SMS, dữ liệu tập tin ghi âm và tin nhắn có liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy giữa Nguyễn Đức T và Mai Chiến T2.

Bản cáo trạng số: 15/CT-VKS-KV7 ngày 01/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

2. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, đã phân tích về hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, qua đó giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 36 (Ba mươi sáu) đến 42 (Bốn mươi hai) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của bản thân, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với sự vắng mặt của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Người chứng kiến; xét thấy, những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác, cũng như vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Có đủ cơ sở để kết luận:

Vào ngày 23/8/2025, tại thôn P, xã N, tỉnh Quảng Ngãi, Nguyễn Đức T đã có hành vi tàng trữ 0,130 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để bản thân sử dụng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Do đó, cáo trạng số 15/CT-VKS-KV7 ngày 01/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu cá nhân muốn có ma túy để sử dụng mà bị cáo đã bất chấp việc pháp luật ngăn cấm để cất giấu ma túy với khối lượng 0,130 gam ma túy loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương nhất là tình trạng tội phạm ma túy ngày càng gia tăng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, để cải tạo, giáo dục bị cáo biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

* Các vật chứng sau đây không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy:

  • 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 24116619, bên ngoài túi niêm phong có 03 (ba) hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI” và có các chữ ký ghi tên của Nguyễn Hàn N2, Lê Thanh L tại mép dán.
  • 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 24116625, bên ngoài túi niêm phong có 03 (ba) hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI” và có các chữ ký ghi tên Nguyễn Hàn N2 và Hoàng Trường G tại mép dán. (Mẫu vật còn lại được đựng trong một túi ni lông, có khối lượng đã trừ bì là 0,125 gam).
  • 02 (hai) bì ni lông trong suốt có viền màu xanh loại mép vuốt.

* Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T: 01 (một) điện thoại di động dạng cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, số IMEI 1: 864326055860559,số IMEI 2: 864326055860542, bên trong thân máy chứa 01 (một) thẻ sim Viettel số seri: 8984048000051823688, số thuê bao: 0377023252 và 01 (một) điện thoại di động dạng cảm ứng, nhãn hiệu SONY Xperia, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, số IMEI 1: 359906081223914, số IMEI 2: 359906081223922, bên trong thân máy chứa 02 thẻ sim Micro SD đánh số “1” và “2”, số thuê bao: 0369568791. Được niêm phong trong túi niêm phong dán kín mã số PS3 24072934, mặt trước có chữ “1232/KL-KTHS, 28/10/2025” và có chữ ký ghi họ và tên Đỗ Công H, Hoàng Trường G.

* Trả lại cho anh Đặng Xuân N1: 01 (một) xe mô tô biển số 34P6-4411, số máy 5C64203068, số khung RLCS5C640AY203059, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn trắng xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động của xe.

(Tất cả các vật chứng trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/01/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Quảng Ngãi).

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/01/2026) bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/8/2025).

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

* Tịch thu, tiêu hủy:

  • 01 (một) túi niêm phong mã số: PS3 24116619, bên ngoài túi niêm phong có 03 (ba) hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI” và có các chữ ký ghi tên của Nguyễn Hàn N2, Lê Thanh L tại mép dán.
  • 01 (một) túi niêm phong mã số: PS3 24116625, bên ngoài túi niêm phong có 03 (ba) hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI” và có các chữ ký ghi tên Nguyễn Hàn N2 và Hoàng Trường G tại mép dán. (Mẫu vật còn lại được đựng trong một túi ni lông, có khối lượng đã trừ bì là 0,125 gam).
  • 02 (hai) bì ni lông trong suốt có viền màu xanh loại mép vuốt.

* Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T: 01 (một) điện thoại di động dạng cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, số IMEI 1: 864326055860559,số IMEI 2: 864326055860542, bên trong thân máy chứa 01 (một) thẻ sim Viettel số seri: 8984048000051823688, số thuê bao: 0377023252 và 01 (một) điện thoại di động dạng cảm ứng, nhãn hiệu SONY Xperia, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, số IMEI 1: 359906081223914, số IMEI 2: 359906081223922, bên trong thân máy chứa 02 thẻ sim Micro SD đánh số “1” và “2”, số thuê bao: 0369568791. Được niêm phong trong túi niêm phong dán kín mã số PS3 24072934, mặt trước có chữ “1232/KL-KTHS, 28/10/2025” và có chữ ký ghi họ và tên Đỗ Công H, Hoàng Trường G.

* Trả lại cho anh Đặng Xuân N1: 01 (một) xe mô tô biển số 34P6-4411, số máy 5C64203068, số khung RLCS5C640AY203059, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn trắng xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động của xe.

(Tất cả các vật chứng trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/01/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Quảng Ngãi).

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/01/2026) bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND khu vực 7 – Quảng Ngãi;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Trại tạm giam số 2 CA tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Án văn, bộ phận THA;
  • - UBND nơi đăng ký HKTT của bị cáo;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ VA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Tỷ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2026/HS-ST ngày 08/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 02/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 36 tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger