Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 14 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2026/HS-ST

Ngày: 02-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Truyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thanh Hùng

Ông Trần Đạt Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Long Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Khoa – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Thanh S, sinh ngày 22/5/1995; tại tỉnh Đồng Nai

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ E, ấp B, xã P, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ E, ấp B, xã P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1972; có vợ và 01 con; tiền án: 01 lần tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2024/HS-ST ngày 17/10/2024 của Toà án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/8/2025 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 27/8/2025 Trần Thanh S điều khiển xe mô tô biển số 60B9- 517.41 từ nhà ở ấp B, xã P, tỉnh Đồng Nai đi gặp một người tên T1 (không rõ họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể) để nhờ T1 chỉ chỗ mua ma tuý. Tý chỉ cho bị cáo đến Bưu Điện T3, tỉnh Đồng Nai gặp người tên T2 sẽ bán ma tuý cho. Sau đó bị cáo điều khiển xe đến Bưu Điện T3 thì gặp người thanh niên đến hỏi bị cáo có phải bạn của T1 không thì bị cáo trả lời phải, sau đó bị cáo lấy 500.000 đồng đưa cho người thanh niên này và đồng thời người thanh niên đưa cho bị cáo một gói giấy bạc bên trong có chứa ma tuý. Bị cáo cất giấu ma tuý vào trong túi quần, điều khiển xe về nhà cha vợ là ông Phạm Văn O. Đến khoảng 18 giờ ngày 27/8/2025 bị cáo lấy ma tuý ra sử dụng một ít tại nhà ông O. Đến khoảng 04 giờ ngày 29/8/2025 bị cáo tiếp lục lấy ma tuý ra sử dụng một ít. Đến khoảng 12 giờ ngày 30/8/2025, lực lượng Công an xã L thấy bị cáo không phải là người thường xuyên cư trú trên địa bàn và có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra trên người của bị cáo thì phát hiện bị cáo cất giấu trong túi quần một gói giấy bạc, bên trong có chứa chất bột màu trắng, nghi là chất ma tuý nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ và niêm phong tang vật để trưng cầu giám định.

Quá trình làm việc với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V, bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Tại bản kết luận giám định số 137/KL-KTHS ngày 03/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: chất màu trắng chứa trong 01 miếng giấy bạc được niêm phong gửi đi giám định là ma tuý, loại Heroine có tên khoa học là D có khối lượng 0,3845gam.

Tại Cáo trạng số 14/CT-VKS-HS ngày 10/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long truy tố bị cáo Trần Thanh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như bản cáo trạng đã mô tả và truy tố.

Kiểm sát viên luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về trách nhiệm hình sự: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh S từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: tịch thu và tiêu hủy khối lượng ma tuý 0,3745 gam.

Bị cáo không phát biểu ý kiến tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Lời khai của bị cáo Trần Thanh S tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra thu thập được. Trên cơ sở đánh giá, xem xét toàn diện các chứng cứ có đủ căn cứ để kết luận: khoảng 12 giờ ngày 30/8/2025 tại nhà ông Phạm Văn O thuộc ấp T, xã L, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo Trần Thanh S có hành vi cất giấu ma tuý có khối lượng 3,3845 gam, loại Heroin trong túi quần nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an xã L phát hiện bắt quả tang.

[2] Bị cáo Trần Thanh S là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Bị cáo nhận biết việc thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy loại Heroin có khối lượng 0,3845gam với mục đích để sử dụng. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo không những xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người; gây mất trật tự an toàn xã hội vì người sử dụng ma tuý là nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo mua ma túy cất giấu để sử dụng. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu vì có tiền án về tội trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không sửa đổi bản thân lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Do đó cần phải xử lý nghiêm bằng hình phạt tù có thời hạn, để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Đối với vợ bị cáo Phạm Thị Trúc L và cha vợ của bị cáo ông Phạm Văn O không biết bị cáo mua ma tuý, tàng trữ trái phép chất ma tuý và sử dụng trái phép chất ma tuý, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 17/10/2024 của Toà án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý ngày 30/8/2025 là chưa hết thời gian được xoá án tích. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về các tình tiết giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai rõ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi, hứa sẽ sửa chữa sai lầm của bản thân. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[7] Đối với người tên T2 và T1, Công an xã T, tỉnh Đồng Nai không xác minh đối tượng tên T2 và T1. Do đó khi nào xác minh được đối tượng T2 và T1 sẽ xem xét xử lý sau.

[8] Về áp dụng hình phạt: Phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã phân tích đúng tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo. Quan điểm buộc tội của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với các tình tiết và các tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa, mức hình phạt đề nghị là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về xử lý vật chứng: khối lượng ma tuý là vật cấm lưu hành. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, tịch thu và tiêu hủy gồm: khối lượng ma tuý loại Heroin, có khối lượng 0,3745 gam sau giám định. Riêng đối với xe mô tô biển số 60B9-51741, Công an đã chứng minh không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và đã xử lý vật chứng giao trả xe cho ông Nguyễn Thanh H1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q. Bị cáo Trần Thanh S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định.

[11] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Trần Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù của bị cáo Trần Thanh S được tính từ ngày tạm giữ ngày 30/8/2025.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: tịch thu và tiêu huỷ khối lượng ma tuý loại Heroin, có khối lượng 0,3745 gam.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q. Buộc bị cáo Trần Thanh S chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - STP tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND khu vực 14 – Vĩnh Long;
  • - CA tỉnh Vĩnh Long;
  • - Phòng THADS khu vực 14 – Vĩnh Long;
  • - UBND xã, phường;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Truyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2026/HS-ST ngày 02/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – VĨNH LONG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 02/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trần Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù của bị cáo Trần Thanh S được tính từ ngày tạm giữ ngày 30/8/2025. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: tịch thu và tiêu huỷ khối lượng ma tuý loại Heroin, có khối lượng 0,3745 gam. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q. Buộc bị cáo Trần Thanh S chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger