|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 02/2026/HNGĐ - PT Ngày 12 - 01 - 2026 “V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _______________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phượng
Các Thẩm phán: Ông Võ Thái Sơn, Bà Tôn Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Ông Kim Mộc Nam – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Lưu Thị Kim Chúc - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 12 tháng 01 năm 2026, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 64/2025/TLPT–HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 66/2025/HNGĐ - ST, ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân thành khu vực 10 - Cần Thơ, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 955/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc Anh T, sinh năm 1995. (Vắng mặt)
Số CCCD: [...], cấp ngày 26/8/2021.
Địa chỉ: Ấp S, xã K, Thành phố Cần Thơ. - Bị đơn: Ông Huỳnh C, sinh năm 1995. (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, Thành phố Cần Thơ. - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Ông Huỳnh Hồng T1. (Có mặt).
- 3.2. Bà Hà Thị Cẩm T2. (Vắng mặt).
- 3.3. Bà Lê Thị T3. (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp S, xã K, Thành phố Cần Thơ.
- 3.4. Ông Lê Hùng P. (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Địa chỉ Ấp S, xã K, Thành phố Cần Thơ.
- 3.5. Bà Nguyễn Thị Kim T4 (Cào). (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp S, xã Đ, Thành phố Cần Thơ.
- 3.6. Ông Nguyễn Văn S. (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Địa chỉ: Ấp S, xã K, Thành phố Cần Thơ.
- 3.7. Ông Nguyễn Văn P1. (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Địa chỉ: Ấp K, xã K, Thành phố Cần Thơ.
- 3.8. Ông Bùi Văn H. (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp A, xã K, Thành phố Cần Thơ.
- 3.9. Ông Nguyễn Thanh G. (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp K, xã Đ, Thành phố Cần Thơ.
- 3.10. Bà Đỗ Thị Út H1, sinh năm 1965. (Có mặt). Địa chỉ: Ấp S, xã K, Thành phố Cần Thơ.
- 3.11. Bà Trần Thị Mộng T5. (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp S, xã K, Thành phố Cần Thơ.
- 3.12. Bà Trần Thị Thùy T6. (Vắng mặt). Địa chỉ Ấp S, xã K, Thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà T6: Ông Lê Hùng P. (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Địa chỉ Ấp S, xã K, Thành phố Cần Thơ.
13. Ông Phùng Thanh V. (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp S, xã K, Thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông V: Bà Lê Thị T3. Địa chỉ: Ấp S, xã K, Thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Ngọc Anh T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Út H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn bà Lê Ngọc Anh T trình bày: Vào năm 2011 bà và ông C kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, đến năm 2017 ông bà mới đi đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/10/2017. Quá trình chung sống ông bà chung sống hạnh phúc được khoảng 11 năm và sinh được 01 con chung tên Huỳnh Lê Hoài T7, sinh ngày 19/02/2012, hiện đang sống với bà T. Đến cuối năm 2022 do bất đồng về quan điểm sống, vì tính tình không hợp nhau, kinh tế gia đình không ổn định, ông C hay tụ tập bạn bè, chơi bời ... từ đó mâu thuẫn vợ chồng phát sinh và ngày càng trầm trọng hơn, bà và ông C không còn sống chung từ tháng 4/2023 âm lịch và ông bà cũng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và hôn nhân không thể tồn tại.
Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Châu.
Về con chung: Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Về nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với yêu cầu phản tố của ông C về việc phân chia tài sản chung là căn nhà tiền chế vợ chồng bà ở thì bà có ý kiến: Bà không đồng ý phân chia căn nhà tiền chế nêu trên với ông C, vì nhà được cất trên phần đất của cha mẹ bà cho vợ chồng bà ở, tiền cất nhà là của mẹ bà cho bà để trả tiền khi mua vật liệu cất nhà tiền chế, nên đây không phải tài sản chung của bà và ông C. Việc giao nhận tiền giữa bà và mẹ bà thì hai bên không làm giấy tờ, biên nhận gì, chỉ nói miệng cũng không ai chứng kiến, chỉ có bà và mẹ bà biết, nên không cung cấp cho. Bà T xác định các biên nhận, biên lai mua vật tư đều là bà và ông C trực tiếp giao dịch thanh toán (tiền là của bà H1 giao cho vợ chồng bà trả) nhưng do thời gian đã lâu nên 01 số biên lai đã bị thất lạc.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn ông Huỳnh C trình bày: Về quan hệ hôn nhân, con chung, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian sống ly thân đúng như bà Lê Ngọc Anh T, nên vợ chồng ông cũng không còn chung sống và quan tâm nhau nữa. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T thì ông có ý kiến như sau:
Về hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà T, vì không thể hàn gắn quan hệ vợ chồng được; Về con chung: Ông đồng ý giao con chung tên Huỳnh Lê Hoài T7, sinh ngày 19/02/2012 cho bà T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và không tranh chấp quyền nuôi con và đây cũng là nguyện vọng của con ông. Trường hợp sau này con muốn sống với ông thì ông đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Năm 2021 vợ chồng ông có xây dựng một căn nhà tiền chế trên phần đất của cha mẹ bà T, lúc đó mẹ bà T hứa tặng cho phần đất nền nhà này cho vợ chồng ông nhưng không tách thửa sang tên, căn nhà lúc cất có giá trị là 450.000.000 đồng. Sau khi ly thân thì căn nhà này do bà T quản lý sử dụng, còn ông thì về bên gia đình ông sống và đi làm thuê. Nay do phần đất nền nhà chưa được tách thửa sang tên vợ chồng ông, đất vẫn thuộc quyền sở hữu của mẹ bà T nên ông không yêu cầu phân chia đất. Ông C yêu cầu chia 7/3 giá trị căn nhà và ông yêu cầu được nhận 70% giá trị căn nhà, ông xin nhận giá trị bằng tiền là 315.828.000 đồng.
- Về nợ chung: Nợ của vợ chồng bà Lê Thị T3 583.000.000 đồng; Nợ của vợ chồng ông Lê Hồng P2 300.000.000 đồng; Nợ của bà C1 80.000.000 đồng; Nợ vay ông S ở ấp S, xã K 50.000.000 đồng; Nợ ông Nguyễn Văn P1; Nợ của ông H 40.000.000 đồng; Nợ anh G 50.000.000 đồng. Tổng cộng là 1.183.000.000 đồng. Ông C yêu cầu chia đôi phần nợ chung này, mỗi người một nửa, tương đương mỗi người phải trả là 591.500.000 đồng.
Ông C có đơn yêu cầu phản tố để yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung với bà T và Toà án đã thụ lý ngày 18/12/2023. Tuy nhiên đến ngày 25/4/2025 ông C có đơn xin rút lại một phần yêu cầu phản tố về việc không yêu cầu toà án giải quyết về nợ chung. Đồng thời, ông C xin thay đổi một phần phần yêu cầu phản tố về chia nợ chung, cụ thể: Ông C yêu cầu chia đôi phần tài sản chung theo kết quả định giá tài sản do Toà án thành lập của căn nhà tiền chế là 134.276.576 đồng, mỗi người hưởng 50% (theo đơn yêu cầu phản tố ông xin nhận 70% giá trị căn nhà), tương ứng thành tiền là 134.276.576 đồng : 2 = 67.138.288 đồng và xin nhận giá trị là tiền.
Ngày 14/5/2024 Toà án thụ lý yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn S và ông Nguyên Văn P3 về việc yêu cầu ông C có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ. Nhưng đến ngày 11/6/2025, ông S và ông P3 đều có đơn xin rút lại toàn bộ yêu cầu độc lập vì đã tự thoả thuận với ông C, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Theo các lời khai của bà Lê Thị T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người đại diện theo uỷ quyền của ông Phùng Thanh V (chồng bà T3) cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án: Từ tháng 4/2023 vợ chồng T và C có nhờ bà chuyển tiền qua nhiều tài khoản và bà đã chuyển khoản theo yêu cầu của C nhiều lần với tổng số tiền là 772.000.000 đồng, sau đó có chuyển trả tiền lại cho bà 190.000.000 đồng, còn nợ lại 582.000.000 đồng, cung với C còn nợ bà 1.000.000 đồng trước đó chưa trả, tổng số tiền vợ chồng T, C còn nợ vợ chồng bà là 583.000.000 đồng.
Các lần giao dịch chuyển tiền bà đều làm theo yêu cầu của ông C và chính ông C cung cấp tài khoản nhận tiền, mục đích chuyển tiền làm gì thì bà không biết, vì bà chỉ nhận chuyển tiền hưởng phí dịch vụ, chứ bà không hỏi họ. Nay vợ chồng T và Châu ly H2 thì bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án này và cũng không có yêu cầu gì. Bà sẽ tự thượng lượng với họ về số tiền và cách thức trả nợ, trường hợp không thoả thuận được thì bà sẽ khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án khác.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim T4 (Cào) trình bày: Vào ngày 16/3/2023 ông C có liên hệ điện thoại nhờ bà chuyển tiền cho người khác với số tiền là 50.000.000 đồng, phí chuyển tiền là 80.000 đồng. Ngay chiều ngày 16/3/2023 bà T là người trực tiếp trả phí chuyển tiền cho bà là 50.000 đồng, còn số tiền 80.000.000 đồng thì đến nay chưa trả cho bà. Nay vợ chồng T và Châu ly H2 thì bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án này và cũng không có yêu cầu gì.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hồng T1 trình bày: Ông và vợ ông tên T2 không có yêu cầu độc lập trong vụ án này, cũng không tranh chấp gì trong vụ án này với bà T ông C. Còn Hợp đồng cầm cố đất giữa vợ chồng ông và vợ chồng bà T3, ông V cùng vợ chồng ông P2 và bà T3 cũng không tranh chấp trong vụ án này.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Út H1 trình bày: Căn nhà tiền chế này được cất trên phần đất của vợ chồng bà, do chồng bà chết, bà ở một mình nên mới cất căn nhà tiền chế nêu trên xong mới kêu vợ chồng T, C về ở để mẹ con bà gần nhau. Bà chỉ cho vợ chồng T, C về ở trong căn nhà tiền chế chứ bà không tặng cho. Hơn nữa, tiền cất nhà là của bà giao cho T và C đứng ra trả tiền cho thợ xây nhà và trả tiền mua vật tư xây nhà, nên đây là tài sản của bà chứ không phải tài sản chung của vợ chồng C và T. Vì vậy, bà không đồng ý theo yêu cầu của ông C là chia đôi giá trị căn nhà này.
Tại Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Cần Thơ, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Ngọc Anh T. Ghi nhận sự tự nguyên ly hôn giữa bà Lê Ngọc Anh T và ông Huỳnh Châu. Giao con chung tên Huỳnh Lê Hoài T7 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Huỳnh C về việc chia đôi phần tài sản chung là căn nhà tiền chế, bà T có nghĩa vụ hoàn trả cho ông C giá trị căn nhà thành tiền là 67.138.288 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật để giải quyết là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Cần Thơ. Nguyên đơn bà Lê Ngọc Anh T kháng cáo nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên bị coi như từ bỏ yêu cầu kháng cáo. Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà T.
[2] Về nội dung: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Út H1 kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm công nhận phần tài sản là căn nhà là tài sản chung của vợ chồng ông C và bà T. Tuy nhiên, bà H1 không cung cấp được tài liệu hay chứng cứ gì để chứng minh cho ý kiến của bà là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định tài sản là căn nhà tiền chế được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của ông C và bà T là có cơ sở. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà H1.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 296; khoản 2 Điều 312; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Ngọc Anh T.
2. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Út H1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
3. Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn bà Lê Ngọc Anh T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định. Bà Đỗ Thị Út H1 không phải chịu án phí do là người cao tuổi.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Cần Thơ; - TAND Khu vực 10 – Cần Thơ; - THADS TP. Cần Thơ; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Thị Phượng |
Bản án số 02/2026/HNGĐ - PT ngày 12/01/2026 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ về tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung
- Số bản án: 02/2026/HNGĐ - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo không đồng ý xác định nhà là tài sản chung của vợ chồng và đó là tài sản của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
