Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1-CẦN THƠ

Bản án số: 02/2026/DS-ST

Ngày: 06/01/2026

Vụ án: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Ánh

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh Hương
  2. Ông Võ Hoàng Vũ

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ.

Vào ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 311/2025/TLST-DS ngày 15 tháng 10 năm 2025, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 977/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 424/2025/QĐST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn M, sinh năm: 1956; CCCD số: [...]; Địa chỉ: Số A H, phường N, thành phố Cần Thơ (Địa chỉ cũ: Số A H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ). (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Đỗ Thanh P, sinh năm: 1993; CCCD số: [...]; Địa chỉ: Số F T, phường N, thành phố Cần Thơ (Địa chỉ cũ: Số F T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ). (Vắng mặt)

Bà Nguyễn Ngọc N, sinh năm: 1993; CCCD số: [...]; Địa chỉ: Số A C, phường C, thành phố Cần Thơ (Địa chỉ cũ: Số A C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ). (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn ông Trần Văn M trình bày:

Ngày 07/9/2023 ông Trần Văn M có cho ông Đỗ Thanh P và bà Nguyễn Ngọc N vay số tiền 2.000.000.000 đồng, thỏa thuận thời gian vay là 02 tháng, thỏa thuận lãi suất 1,5%/tháng, việc vay có làm hợp đồng vay tiền ngày 07/9/2023 được Văn phòng C công chứng và các bên cũng có làm giấy nhận tiền vay cùng ngày 07/9/2023 ông P, bà N đã nhận đủ tiền vay là 2.000.000.000 đồng. Sau khi vay tiền, ông P, bà N đã không trả gốc, lãi đúng hạn, ông M đã đòi nhiều lần nhưng ông P, bà N lẩn tránh.

Nay ông Trần Văn M yêu cầu ông Đỗ Thanh P và bà Nguyễn Ngọc N có trách nhiệm trả cho ông M số tiền nợ vay, gồm: Nợ gốc là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) và nợ lãi tính từ ngày 07/9/2023 cho đến khi xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 1,5%/tháng. (Số tiền nợ gốc, lãi tạm tính đến ngày 07/5/2025 là 2.600.000.000 đồng).

Đối với bị đơn Đỗ Thanh P, Nguyễn Ngọc N mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa bằng phương thức niêm yết, nhưng vẫn vắng mặt, nên Tòa án không thu thập được lời khai, cũng như không tiến hành hòa giải vụ án được theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn nộp các bản gốc hợp đồng vay tiền ngày 07/9/2023; Giấy nhận tiền vay ngày 07/9/2023; Giấy cam kết trả tiền vay, mượn không lãi ngày 01/4/2024; Đồng thời nguyên đơn ông Trần Văn M thay đổi chỉ yêu cầu bị đơn ông Đỗ Thanh P, bà Nguyễn Ngọc N phải có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn M số nợ gốc là 2.000.000.000 đồng, về lãi suất không yêu cầu đối với bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Xét về quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về “Hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Do các bị đơn cư trú tại quận N, thành phố Cần Thơ nay là phường N và phường C, thành phố Cần Thơ; Căn cứ Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án khu vực và quy định phạm vi thẩm quyền lãnh thổ, nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ theo quy định tại Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15, ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội có hiệu lực ngày 01/7/2025.

Đối với bị đơn ông Đỗ Thanh P qua xác minh được Công an phường X, quận N (cũ) nay là phường N xác định ông P hiện vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số F, đường T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ (Nay là phường N). Địa chỉ này cũng được ghi trong Hợp đồng vay tiền có công chứng, nhưng đương sự không còn sinh sống tại địa phương; Đối với bị đơn bà Nguyễn Ngọc N có đăng ký thường trú tại số A, C, phường A, thành phố Cần Thơ (nay là phường C, thành phố Cần Thơ), nhưng đương sự vắng mặt tại địa phương, địa chỉ này cũng là địa chỉ bị đơn ghi trong Hợp đồng vay tiền có công chứng. Nên Tòa án đã tiến hành tống đạt bằng phương thức niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhiều lần theo quy định tại Khoản 5 Điều 177, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đương sự vẫn vắng mặt. Nên căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

[2]. Qua yêu cầu của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyên đơn ông Trần Văn M khởi kiện bị đơn ông Đỗ Thanh P, bà Nguyễn Ngọc N đòi lại số tiền nợ gốc 2.000.000.000 đồng trong hợp đồng vay tài sản, đã cung cấp được chứng cứ là bản gốc hợp đồng vay tiền ngày 07/9/2023, được Văn phòng C công chứng; Cùng ngày các bên cùng làm giấy nhận tiền vay nội dung người vay ông Đỗ Thanh P, bà Nguyễn Ngọc N đã nhận tiền vay và cam kết trả vốn, lãi đúng hạn và sau cùng là giấy cam kết trả tiền vay ngày 01/4/2024. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông P, bà N bằng phương thức niêm yết đúng quy định. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định “Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới”. Việc ông P, bà N sau khi vay nợ của nguyên đơn ông M thì hiện nay qua xác minh của Công an phường nơi đăng ký thường trú ông P, bà N không còn sinh sống tại địa chỉ nơi đăng ký thường trú, (địa chỉ này đã được ghi trong hợp đồng vay tiền), khi chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ và không thông báo địa chỉ mới cho nguyên đơn là thuộc trường hợp giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ.

Ngoài ra theo quy định tại Khoản 3 Điều 5 Luật Công chứng 2014 và nay là Khoản 3 Điều 6 Luật Công chứng 2024 có quy định: “Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu”. Tại Điểm c Khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự cũng quy định những tình tiết sự kiện không phải chứng minh là những tình tiết, sự kiện đã ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Đó đó với những chứng cứ như đã phân tích nêu trên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn theo hợp đồng vay tiền do đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự.

Về lãi suất, hiện nguyên đơn không yêu cầu đối với bị đơn nên ghi nhận sự tự nguyện định đoạt này của nguyên đơn.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí theo quy định của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470 Bộ luật Dân sự;
  • - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên án:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Văn M

- Buộc bị đơn ông Đỗ Thanh P, bà Nguyễn Ngọc N phải có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn M số tiền nợ gốc 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng);

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của nguyên đơn cho đến khi thi hành án xong, bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Đỗ Thanh P, bà Nguyễn Ngọc N phải nộp 72.000.000 đồng (Bảy mươi hai triệu đồng) tại Chi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND TP Cần Thơ;

- VKSND TP Cần Thơ;

- VKSND khu vực 1-Cần Thơ;

- THADS TP Cần Thơ;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa





Bùi Xuân Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2026/DS-ST ngày 06/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 02/2026/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa NĐ ông Trần Văn M với BĐ ông Đỗ Thanh P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger