Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2025/QÐST- HNGĐ

Phú Thọ, ngày 29 tháng 12 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Hủy việc kết hôn trái pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Văn Trung.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Anh Lợi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 04/2025/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025 về việc Hủy kết hôn trái pháp luật theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2025/QÐST- HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025, những người tham gia tố tụng:

  • - Người yêu cầu: UBND xã C, tỉnh Phú Thọ; người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Hữu Đ - Chức vụ: Chủ tịch UBND xã. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lý Sinh H - Chức vụ: Công chức Văn Phòng HĐND và UBND xã. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Bùi Cảnh L, sinh ngày 27/5/1989, bà Hà Thị L1, sinh ngày 09/02/1992. Cùng trú tại: thôn D, xã C, tỉnh Phú Thọ. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và các tài liệu kèm theo người yêu cầu trình bày:

Quá trình tiếp nhận hướng dẫn thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh theo yêu cầu của công dân Bùi Cảnh L, sinh ngày 27/5/1989, thường trú tại thôn D, xã C, tỉnh Phú Thọ.

Theo sổ gốc đăng ký kết hôn của UBND xã H cũ, hiện đang lưu trữ tại UBND xã C, số A quyển số 01 năm 2008 đăng ký ngày 17/7/2008 tại UBND xã H cũ, có thông tin người chồng là ông Bùi Cảnh L, sinh ngày 27/5/1988, thông tin người vợ là bà Hà Thị L1, sinh ngày 09/02/1990. Thông tin người vợ và người chồng không trùng khớp với khai sinh và hồ sơ, giấy tờ hiện tại, có dấu hiện khai không đúng độ tuổi (tăng tuổi) để được đăng ký kết hôn.

Tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 17/7/2008, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đang có hiệu lực, nhận thấy như sau:

Ông Bùi Cảnh L có nguyên quán và nơi sinh tại thôn D, xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình cũ, bà Hà Thị L1 có nguyên quán và nơi sinh tại thôn G, xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình cũ, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình công nhận và tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quản của địa phương.

Ngày 17/7/2008, ông Bùi Cảnh L và bà Hà Thị L1 cùng có mặt tại UBND xã H cũ để thực hiện việc đăng ký kết hôn, tại thời điểm đăng ký kết hôn ông L, bà L1 đều đã biết rõ việc hai người chưa đủ tuổi để kết hôn theo quy định nhưng vẫn cố tình kê khai thông tin về năm sinh không đúng sự thật để được đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Việc đăng ký kết hôn giữa ông L, bà L1 đều dựa trên ý chỉ chủ quan, do hai bên bàn bạc thống nhất, không bị lừa dối, ép buộc hoặc bị tác động, chi phối bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào.

Theo giấy khai sinh cấp ngày 23/10/1998 cấp tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình cấp cho người được khai sinh là Hà Thị L1, sinh ngày 09/02/1992, tính đến thời điểm đăng ký kết hôn 17/7/2008, bà Hà Thị L1 mới 16 tuổi 05 tháng 09 ngày, chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Theo giấy khai sinh cấp ngày 04/9/1999, cấp tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình cấp cho người được khai sinh là Bùi Cảnh L, sinh ngày 27/5/1989, tính đến thời điểm đăng ký kết hôn ngày 17/7/2008, ông Bùi Cảnh L đã đủ tuổi đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Như vậy việc đăng ký kết hôn giữa chị Hà Thị L1 và anh Bùi Cảnh L là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Phú Thọ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Hà Thị L1 và anh Bùi Cảnh L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Cảnh L trình bày:

Anh và chị Hà Thị L1 tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn không bị ép buộc, khi tìm hiểu anh cũng biết chị L1 chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định, tuy nhiên do không hiểu quy định của pháp luật, không biết được hậu quả của việc kết hôn khi chưa đủ tuổi nên anh và chị L1 bàn bạc khai tăng tuổi để được đăng ký kết hôn và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương.

Kể từ sau khi đăng ký kết hôn đến này anh và chị L1 chung sống và đã có 04 con là các cháu: Bùi Thị Cẩm V, sinh năm 2010; Bùi Thị An V1, sinh năm 2013, Bùi Huy V2, sinh năm 2018 và 01 cháu mới sinh được 02 tháng chưa được khai sinh. Nay UBND xã C đề nghị Toà án huỷ kết hôn trái pháp luật anh đồng ý.

Tuy nhiên hiện nay vợ chồng chung sống hạnh phúc nên anh L đề nghị Toà án công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh và chị Hà Thị L1 kể từ thời điểm chị Hà Thị L1 đủ điều kiện đăng ký kết hôn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị L1 trình bày:

Chị và anh Bùi Cảnh L tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn không bị ép buộc, khi hai bên quyết định đi đến kết hôn chị biết khi đó mình chưa đủ tuổi đăng ký nên chị và anh L đã bàn bạc khai tăng tuổi để được UBND xã đăng ký kết hôn, sau khi được UBND xã đăng ký kết hôn gia đình hai bên đã tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương.

Kể từ sau khi đăng ký kết hôn đến này chị và Lâm chung sống và đã có 04 con là các cháu: Bùi Thị Cẩm V, sinh năm 2010; Bùi Thị An V1, sinh năm 2013, Bùi Huy V2, sinh năm 2018 và 01 cháu mới sinh được 02 tháng chưa được khai sinh. Nay UBND xã C đề nghị Toà án huỷ kết hôn trái pháp luật chị đồng ý.

Tuy nhiên hiện nay vợ chồng chị chung sống hạnh phúc nên chị L1 đề nghị Toà án công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị và L kể từ thời điểm chị (Hà Thị L1) đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Tại phiên họp:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ phát biểu ý kiến và đề nghị áp dụng Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a, khoản 1 Điều 8 và khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. khoản 2, Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06/1/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 149, Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu của Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Phú Thọ, hủy kết hôn trái pháp luật theo giấy chứng nhận kết hôn số 19, quyển số 01 năm 2008, ngày 17/7/2008 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay là xã C, tỉnh Phú Thọ); Công nhận quan hệ hôn nhân cho anh Bùi Cảnh L và chị Hà Thị L1 kể từ ngày chị L1 đủ tuổi kết hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Phú Thọ là cơ quan quản lý Nhà Nước về hôn nhân và gia đình tại xã C, tỉnh Phú Thọ theo khoản 2 Điều 4 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên có quyền đề nghị hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bùi Cảnh L và chị Hà Thị L1 theo khoản 2 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình. Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Phú Thọ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết việc dân sự, cũng như tại phiên họp, Thẩm phán, Kiểm sát viên, người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tuân thủ các quy định pháp luật về tố tụng dân sự. Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

[2]. Về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật

Theo giấy khai sinh thì anh Bùi Cảnh L, sinh ngày 27/05/1989, chị Hà Thị L1, sinh ngày 09/02/1992.

Ngày 17/7/2008 Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn số 19, quyển số 01 năm 2008, ngày 17/7/2008 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay là xã C, tỉnh Phú Thọ) ghi: Họ tên chồng Bùi Cảnh L; sinh ngày 27/5/1989. Họ tên vợ Hà Thị L1, sinh ngày 09/02/1990.

Như vậy tại thời điểm đăng ký kết hôn chị Hà Thị L1 mới 16 tuổi 05 tháng 09 ngày; Anh Bùi Cảnh L 19 tuổi, 01 tháng 20 ngày. Căn cứ Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, chị Hà Thị L1 chưa đủ tuổi kết hôn, thuộc trường hợp kết hôn trái pháp luật. Do vậy yêu cầu của Ủy ban nhân dân xã C, Tỉnh Phú Thọ về việc huỷ kết hôn trái pháp luật giữa anh Bùi Cảnh L và chị Hà Thị L1 là có căn cứ được chấp nhận.

[3]. Về yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của anh Bùi Cảnh L và chị Hà Thị Liên T thời điểm đủ điều kiện kết hôn

Quá trình chung sống anh L và chị L1 đã có 04 con chung, hiện vẫn đang chung sống với nhau hoà thuận, hạnh phúc và cùng đề nghị công nhận quan hệ hôn nhân từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn. Anh L đủ 20 vào ngày 27/5/2009, chị Hà Thị L1 đủ 18 tuổi vào ngày 09/02/2010. Yêu cầu của anh L chị L1 là tự nguyện, không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn Nhân và Gia đình, do vậy công nhận anh Bùi Cảnh L và chị Hà Thị L1 là vợ chồng kể từ ngày 09/02/2010.

[4]. Về lệ phí: Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Phú Thọ không phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
  • - khoản 6, Điều 3; khoản 2, Điều 5; Điều 8; Điều 10; Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • - Các Điều 29; 35; 39; 149, 150; 361; 371, 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Phú Thọ về việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bùi Cảnh L và chị Hà Thị L1.

Chấp nhận yêu cầu của anh Bùi Cảnh L và chị Hà Thị L1 về việc công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Cảnh L và chị Hà Thị Liên T thời điểm đủ điều kiện kết hôn, cụ thể:

  1. Hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bùi Cảnh L và chị Hà Thị L1, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19, quyển số 01 năm 2008, ngày 17/7/2008 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay là xã C, tỉnh Phú Thọ).
  2. Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Cảnh L và chị Hà Thị L1 kể từ ngày 09 tháng 02 năm 2010.
  3. Về lệ phí: Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Phú Thọ không phải nộp lệ phí yêu cầu việc dân sự.
  4. Về quyền kháng cáo: người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được Quyết định./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 13 – Phú Thọ;
  • - Người yêu cầu;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ việc dân sự.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Vũ Văn Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/QÐST- HNGĐ ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về hủy việc kết hôn trái pháp luật

  • Số bản án: 02/2025/QÐST- HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Hủy việc kết hôn trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của UBND xã Cao Dương
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger