|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 02/2025/LĐPT Ngày: 13/02/2025. V/v: “Tranh chấp sa thải”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Thế Bình
- - Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thành Bình, ông Nguyễn Văn Nam.
- - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang- Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 13/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án lao động thụ lý số: 02/2024/TLST-LĐ ngày 12/12/2024 về việc “Tranh chấp kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải”. Đối với Bản án lao động sơ thẩm số: 02/2024/LĐST, ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXPT-LĐ ngày 06/01/2025 giữa:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1994; Trú tại: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T, sinh 1998, trú tại: Khu S, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Bị đơn: Công ty TNHH R. Địa chỉ: Lô C- 1, khu công nghiệp Y (khu mở rộng), xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Do bà Nguyễn Thị Phương T1, sinh năm 1990; Chức vụ: Nhân viên Công ty được ủy quyền đại diện (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty TNHH R: Ông Võ Đình Đ, Bà Nguyễn Thị H– Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: P Tòa D, số B D, phường M, Quận N, Hà Nội (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH C; Địa chỉ: Số F đường T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Văn H1, chức vụ: Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Bà Tống Mai A, sinh năm 1994; Trú tại: T, V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh theo Văn bản ủy quyền ngày 27/5/2024 (xin vắng mặt).
Do có đơn kháng cáo của anh Nguyễn Văn D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Anh Nguyễn Văn D vào Công ty R làm việc theo Hợp đồng lao động số EWS-00104 ngày 01/3/2022 với nội dung như sau:
- + Thời hạn lao động: 36 tháng từ ngày 01/3/2022 đến ngày 28/2/2025
- + Chức vụ: HSE Engineer, phòng ban: FM
- + Tổng thu nhập lương của anh D trung bình 06 tháng gần đây là 16.673.447 đồng/tháng (lương cơ bản, phụ cấp lương).
Hiện công ty đã ra quyết định xử lý kỷ luật anh D bằng hình thức sa thải và vụ việc diễn ra như sau:
Ngày 12/01/2024, Bà Nguyễn Thị Phương T1- Phụ trách nhân sự có gọi anh D lên trao đổi vì bà cho rằng anh D có sai phạm, cụ thể là nhận tiền của đối tác và làm rõ vì sao anh D lại nói xấu bà Nguyễn Thị Phương T1 với người khác. Tại thời điểm đó, anh D đã trao đổi rõ là anh D hoàn toàn không nhận tiền từ đối tác và yêu cầu bà Nguyễn Thị Phương T1 có thể làm việc với cơ quan Công an để làm rõ.
Chiều ngày 13/01/2024 anh D được cán bộ nhân sự gọi lên họp nhưng không thông báo cụ thể là họp về vấn đề gì. Tại buổi họp có người của phòng nhân sự, người của phòng kế toán, chủ tịch công đoàn, uỷ viên ban chấp hành công đoàn, không có đại diện của Công ty R, nội dung cuộc họp là xem xét hành vi vi phạm lao động của anh D. Trong buổi họp anh D không được phát biểu và được trao đổi là cuộc họp chỉ là hình thức, việc sa thải anh D đã được quyết định, sau đó cuối giờ chiều anh D nhận được Quyết định số 130124/QĐ-RCVN v/v xử lý vi phạm quy định công ty trong đó có nội dung: Căn cứ Biên bản vi phạm lập ngày 13/01/2024 đồng ý chấm dứt Hợp đồng lao động của ông Nguyễn Văn D mã nhân viên EWS-00104 kể từ ngày 15/01/2024 với hình thức sa thải.
Ngày 14/01/2024, do không đồng ý với toàn bộ nội dung có trong Quyết định nên anh D đã viết đơn đề nghị Công ty xem xét huỷ bỏ quyết định để anh D được tiếp tục làm việc vì vợ anh D vừa sinh, không có thu nhập nên anh D là lao động chính của gia đình và việc mà công ty sa thải trái luật đã ảnh hưởng đến gia đình của anh D. Tuy nhiên, đến ngày 16/01/2024 đại diện nhân sự Công ty R đã gửi mail cho anh D với nội dung vẫn giữ nguyên việc sa thải, không cho anh D quay lại làm việc.
Căn cứ quy định của Bộ luật lao động 2019 và Nghị định số: 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động và quan hệ lao động (sau đây viết tắt là Nghị định 145/2020/NĐ-CP) để kỷ luật bằng hình thức sa thải,
Đến nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với việc đề nghị: Huỷ bỏ Quyết định số 130124/QĐ-RCVN của Công ty TNHH R. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Phong giải quyết với các nội dung sau:
- - Xin lỗi anh Nguyễn Văn D công khai.
- - Bồi thường 02 tháng tiền lương (vì công ty đã nhận anh D quay trở lại làm việc và anh D đã từ chối nên nguyên đơn thay đổi từ 04 tháng tiền lương xuống còn 02 tháng tiền lương) tương đương với số tiền là 16.673.447 đồng x 2 tháng lương = 33.346.894 đồng.
- - Bồi thường cho anh D số tiền trong những ngày anh D không được làm việc tại công ty từ ngày 15/01/2024 đến ngày xét xử (ngày 30/8/2024) làm tròn với số tiền là 124.000.000₫.
- - Trả tiền trợ cấp thôi việc cho anh D theo quy định tại khoản 2 Điều 41, Điều 46 Bộ luật lao động 2019 và Điều 8 Nghị định 145/2020 NĐ-CP trong 02 tháng thử việc của anh D (2 tháng không tham gia Bảo hiểm thất nghiệp) tương ứng với ¼ tháng tiền lương của anh D x 16.673.447 đồng = 4.168.361 đồng.
- - Trả tiền BHXH, BHYT, BHTN cho anh D trong những thời gian anh D không được tham gia BHXH tại công ty bằng (21,5% x 9.600.000) x 8 tháng từ tháng 1/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm với số tiền là 16.512.000đ.
- - Bồi thường cho anh D trong những ngày không được báo trước, Hợp đồng của anh D là Hợp đồng xác định thời hạn nên cần báo trước 30 ngày. Tiền lơng mỗi ngày làm việc = 16.673.447d/24 = 694.726 đồng với số tiền là 20.841.780 đồng.
Tổng cộng số tiền anh D yêu cầu Công ty TNHH R bồi thường là 198.869.035₫.
- Phía bị đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Nguyễn Thị Phương T1 trình bày:
Công ty TNHH R; Địa chỉ: Lô C, KCN Y (mở rộng), Y, Y, Bắc Ninh. Mã số Doanh nghiệp: 2301143012; Người đại diện: LIANG YU HAO Chức vụ; Trưởng phòng HCNS cấp cao.
- Anh Nguyễn Văn D và Công ty R có quan hệ lao động và ký kết Hợp đồng lao động số EWS-00104 ngày 01/03/2022 Hợp đồng lao động giữa anh D và Công ty có thời hạn 03 năm tính từ ngày 01/03/2022 đến hết ngày 28/02/2025, chức vụ HSE Engineer (kỹ sư), Ngày 01/07/2023 ông D được bổ nhiệm chức vụ phó chủ quản bộ phận cơ sở vật chất (Viết tắt EWS-FM) của công ty. Với mức lương cơ bản là 9.600.000₫.
Tuy nhiên quá trình thực hiện Hợp đồng lao động, ông Nguyễn Văn D đã có những hành vi vi phạm nội quy lao động, Hợp đồng lao động và pháp luật về lao động. Từ những hành vi vi phạm của người lao động, Công ty R chúng tôi đã thực hiện các thủ tục xử lý kỷ luật lao động và ra quyết định kỷ luật lao động với hình thức sa thải ngày 13/01/2024.
Trước, trong và sau khi ký Hợp đồng lao động với Công ty, anh Nguyễn Văn D cũng như các nhân viên khác trong Công ty đều đã được tham gia vào các khóa đào tạo, đồng thời được học, được phổ biến đầy đủ các như quy tắc ứng xử nội bộ trong Công ty và Nguyên tắc hoạt động của Tập đoàn, bao gồm các chương trình như:
- * Ngày 01/03/2022, ngày đầu tiên gia nhập Công ty nhân viên Nguyễn Văn D đã được Công ty Đ1 chương trình hội nhập nhân viên mới trong đó bao gồm các nội dung như: Quy tắc ứng xử nội bộ, Phương châm hoạt động của tập đoàn L2...vv và nhân viên đã ký xác nhận tuân thủ mọi quy tắc và phương châm hoạt động của Công ty.
Hàng năm theo quy định của Tập đoàn, Tổng Giám đốc Công ty hoặc Phó Tổng Giám đốc Công ty phải trực tiếp hoặc đào tạo online các khóa đào tạo về “Phương châm hoạt động của tập đoàn L2” đối với toàn thể quản lý nhân viên trong Công ty để đảm bảo các nhân viên đi đúng phương châm hoạt động của tập đoàn L2 đưa ra cho toàn bộ các Công ty con.
- * Ngày 26/05/2022, Toàn bộ 42 quản lý của Công ty các bộ phận tham gia đào tạo “Đề cương đào tạo đạo đức của tập đoàn L2” dưới sự đào tạo của Tống Giám Đốc Công ty Ông PANG KA KIE trong đó có nhân viên Nguyễn Văn D có tham gia và có ký xác nhận hoàn thành khóa đào tạo.
- * Ngày 27/07/2023 Toàn bộ 44 quản lý của Công ty các bộ phận tham gia đào tạo “Đề cương đào tạo đạo đức của tập đoàn L2” dưới sự đào tạo trực tuyến của Tổng Giám đốc công ty ông PANG KA KIE trong đó có nhân viên Nguyễn Văn D có tham gia và có ký xác nhận hoàn thành khóa đào tạo.
Mặc dù đã được đào tạo các chương trình, phổ biến các nội quy lao động của Công ty trong suốt thời gian làm việc, tuy nhiên ông Nguyễn Văn D đã vi phạm rất nhiều các quy định theo nội quy lao động, quy tắc ứng xử nội bộ, phương châm hoạt động của tập đoàn L2 theo các điều khoản sau đây:
1. Vi phạm quy định tại khoản 1 điều 37 của Nội quy lao động “Vi phạm quy định về thời gian làm việc, đi làm muộn từ 10 phút trở lên hai ngày liên tục trong tuần mà không báo trước, không xin phép quản lý hoặc không có lý do chính đáng” và điều 11 chương IV về thời gian làm việc: “Thời gian làm việc là 8 tiếng/ngày, 06 ngày/tuần. nghỉ tất cả các chủ nhật trong tháng”;
2. Vi phạm quy định tại khoản 2 điểm k điều 37 của Nội quy lao động dã được ban hành ngày 24/10/2022 “Nhân viên sử dụng tài liệu, giấy tờ, văn bằng giả, giả chữ ký của người quản lý, làm giả con dấu Công ty”;
3. Vi phạm tại khoản 2 điểm k điều 125 của Bộ Luật Lao Động về việc: “Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bác, cố ý gây thương tích sử dụng ma túy nơi làm việc”;
Các hành vi trên còn đang vi phạm nghiêm trọng đến nội quy chung tại Công ty như:
a. Nguyên tắc hoạt động của tập đoàn L2 về các hành vi bị nghiêm cấm trong kinh doanh: "Nghiêm cấm mọi hình thức hối lộ đều coi là nghiêm cấm tuyệt đối dù là người chủ động hay thụ động tham gia đều bị coi là hành vi vi phạm nghiêm trọng". Nhân viên Nguyễn Văn D đã được trực tiếp Tổng Giám đốc Công ty Đ1 và đã ký tên xác nhận hoàn thành đào tạo;
b. Quy tắc ứng xử nội bộ trong Công ty R
- - Vi phạm điều 4.2.3 (16) Các trường hợp khác được coi là vi phạm mức độ nhẹ cho hành vi sử dụng điện thoại vào mục đích riêng không phải công việc.
- - Vi phạm điều 4.2.3 (2) Cố ý làm giả số liệu, dữ liệu.
Xét thấy hành vi của nhân viên Nguyễn Văn D đặc biệt gây ảnh hưởng đến hình tượng Công ty TNHH R đối với tập đoàn L2.
Sau khi thảo luận và có thông báo với nhân viên Nguyễn Văn D, nhiều lần nhắc nhở thái độ làm việc (nhắc nhở bằng lời nói) nhưng tình trạng không có sự phát triển, ông D vẫn tiếp tục vi phạm, Công ty đã quyết định xử lý kỷ luật lao động vào hồi 10h ngày 13 tháng 01 năm 2024 có sự tham gia của: Bà Nguyễn Thị T2 (Trưởng phòng kế toán); Ông Nguyễn Thanh T3 (Chủ tịch công đoàn) Ông Nguyễn Hai N (Ủy viên BCH công đoàn) và các thành viên khác theo quy định pháp luật về xử lý kỷ luật lao động.
Tại thời điểm trước lúc cuộc họp xử lý kỷ luật diễn ra, ông Nguyễn Thanh T3 (Chủ tịch công đoàn) có đề xuất được trao đổi trước với nhân viên Nguyễn Văn D nhằm tạo điều kiện cho ông D biết sau nhận lỗi và tự xin nghỉ việc tránh hình thức kỷ luật lao động (để cho nhân viên tự viết đơn nghỉ việc) và ông T3 có trao đổi trực tiếp với ông D về nội dung trên. Sau khi quay lại phòng họp vào lúc 11h 00 ông T3 đã chính thức thông báo lại với toàn bộ thành viên tham gia xử lý kỷ luật xin để cho Nhân viên Nguyễn Văn D suy nghĩ đến 13:30 cùng ngày trả lời phương án theo đề xuất của ông T3.
Sau đó ông Nguyễn Thanh T3 (Chủ tịch công đoàn) tiếp tục phân tích những mặt lợi và mặt hại của vấn đề cho nhân viên Nguyễn Văn D và nhân viên Nguyễn Văn D có nói là chưa nhận được tiền của phía nhà thầu Hùng A1. Đồng thời ông Nguyễn Thanh T3 cũng hỏi đại diện Phía Công ty là ông LIANG YU HAO nếu nhân viên Nguyễn Văn D viết đơn nghỉ việc thì có thể giữ bí mật chuyện này được không? Phía Công ty có trả lời là đồng ý cho nhân viên Nguyễn Văn D viết đơn nhưng Công ty V phải đào tạo lại cho cán bộ công nhân viên để lấy đó làm gương.
Cùng ngày 13/01/2024 khoảng 13:00 ông Nguyễn Thanh T3 (Chủ tịch công đoàn) báo lại nội dung ông Nguyễn Văn D không đồng ý việc nhận lỗi, không tự xin nghỉ việc và cam kết sẽ tham gia, có mặt tại buổi họp xử lý kỷ luật động tại Công ty ngày 13/01/2024 tại Công ty TNHH R.
Xét thấy hành động của nhân viên Nguyễn Văn D là trường hợp đặc biệt lần đầu tiên xảy ra tại Công ty TNHH R và tập đoàn L2, đồng thời tuần từ 15/01/2024 đến 20/01/2024 Công ty phải tiếp đón Tổng Giám Đốc của tập đoàn L2 về tham dự buổi tiệc tất niên cuối năm cũng như xem xét tình hình kinh doanh để ký hợp đồng các đơn hàng cho Công ty TNHH R, chúng tôi cũng có nói với nhân viên Nguyễn Văn D là sự việc như này cũng không ai mong muốn và thời gian 05 (ngày) để cho nhân viên Nguyễn Văn D thời gian chuẩn bị trước thì Công ty sẽ thanh toán và trả vào lương để chấm dứt hợp đồng với nhân viên Nguyễn Văn D từ ngày 15/01/2024. Cùng ngày nhân viên Nguyễn Văn D cũng đã đến bộ phận nhân sự làm các thủ tục: Chốt công cho tháng 01 năm 2024, bàn giao các công việc liên quan, và nhận các chứng từ chưa được nhận bao gồm (Biên bản xử lý kỷ luật lao động, Quyết định sa thải, thư mời họp xử lý kỷ luật) và không có bất cứ tranh chấp nào xảy ra giữa các bên.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D, phía Công ty TNHH R có ý kiến quan điểm như sau:
- - Ngày 28/6/2024 Công ty TNHH R đã hủy bỏ Quyết định số: 130124/QĐ-RCVN ngày 13/01/2024 của Công ty TNHH R và đã có thư mời anh Nguyễn Văn D trở lại công ty làm việc bắt đầu từ ngày 05/7/2024.
- - Sau khi anh D quay lại làm việc Công ty sẽ chi trả lương cho anh D chưa được nhận từ ngày 21/01/2024 đến ngày 28/6/2024 với mức lương theo hợp đồng lao động 9.600.000đ/tháng (tổng 51.323.076đ) và bồi thường hai tháng tiền lương mỗi tháng 9.600.000đ (tổng số tiền là 19.200.000₫), bồi thường 30 ngày không báo trước là 11.076.000đ. Đóng bảo hiểm cho anh D từ ngày 01/02/2024 đến 30/6/2024.
- - Trả tiền trợ cấp thôi việc cho anh D là 4.168.361 đồng, phía bị đơn không đồng ý đối với yêu cầu này.
- - Phía Công ty không đồng ý về việc xin lỗi anh D công khai trước toàn thể công nhân viên công ty.
Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đại diện Công ty TNHH C (bà Tống Mai A) trình bày:
Công ty TNHH C chuyên kinh doanh mua, lắp đặt thiết bị điện, điện tử, điện lạnh, điện công nghiệp cho các công ty, nhà máy. Từ khoảng năm 2023, Công ty TNHH C có giao dịch kinh doanh với Công ty TNHH R, cụ thể Công ty TNHH C cung cấp các mặt hàng về điện, các đồ dùng, vật tư dùng trong nhà máy. Quá trình giao dịch với Công ty TNHH R, làm việc trực tiếp với đại diện là ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1994; Trú tại: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình làm việc Công ty TNHH C có báo giá thiết bị lắp đặt cho ông D, còn việc ông D cung cấp, báo giá mà Công ty TNHH C báo giá các thiết bị lắp đặt đó lên phía Công ty TNHH R cho ai và như thế nào thì Công ty C không biết. Sau khi chấp nhận giá báo của Công ty C thì Công ty TNHH R sẽ có một bộ phận gửi Gmail xác nhận đơn đặt hàng về phía Công ty C. Bản thân ông D không phải là người xác nhận các đơn đặt hàng này.
Với tư cách là đại diện Công ty C khi làm việc với ông D thì chị không có thỏa thuận riêng gì liên quan đến báo giá các thiết bị, lắp đặt cho Công ty TNHH R. Chị khẳng định giữa chị và ông Nguyễn Văn D không có việc thỏa thuận về việc nâng giá, thay đổi giá các thiêt bị lắp đặt để cho ông D được tư lợi cá nhân cũng như gây thiệt hại cho phía Công ty TNHH R. Công ty C luôn làm việc theo đúng quy trình cũng như quy định của hai bên Công ty khi thực hiện việc mua bán hàng hóa, lắp đặt thiết bị giữa hai bên. Sau khi bên phía Công ty C giao hàng xong thì trong vòng 30 ngày, Công ty TNHH R sẽ có trách nhiệm thanh toán toàn bộ tiền thiết bị cho Công ty C bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản của Công ty C là 111002870314 tại Ngân hàng C1. Công ty C chỉ sử dụng số tài khoản này để thanh toán với Công ty TNHH R. Nay Tòa án nhân dân huyện Yên Phong đang thụ lý, giải quyết vụ án giữa anh Nguyễn Văn D với Công ty TNHH R thì chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Với nội dung trên tại Bản án lao động sơ thẩm số: 02/2024/LĐST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh căn cứ Điều 5, Điều 6, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm đ khoản 1 Điều 40, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 147, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bộ luật lao động năm 2019. Điều 21, Điều 85, Điều 86 và Điều 89 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014. Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, xử:
- 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn D.
- - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn D về việc đề nghị Huỷ bỏ Quyết định số: 130124/QĐ-RCVN ngày 13/01/2024 của Công ty TNHH R.
- - Buộc Công ty TNHH R phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn D các khoản tiền sau:
- + Tiền bồi thường 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là 19.200.000đ (mười chín triệu, hai trăm nghìn đồng).
- + Tiền lương cho những ngày anh Nguyễn Văn D không được làm việc theo hợp đồng lao động đã ký là 53.538.465đ (Năm mươi ba triệu, năm trăm ba mươi tám nghìn, bốn trăm sáu mươi năm đồng).
- + Tiền bồi thường do vi phạm thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật là 11.076.930 đồng (Mười một triệu, không trăm bẩy sáu nghìn, chín trăm ba mươi đồng).
- + Tiền bảo hiểm chưa đóng trong thời gian không được làm việc là 11.352.000đ (Mười một triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn đồng).
- + Tiền trợ cấp thôi việc cho anh D là 4.168.361 đồng (Bốn triệu, một trăm sáu mươi tám nghìn, ba trăm sáu mươi mốt đồng).
(Tổng số tiền buộc Công ty TNHH R phải trả cho anh Nguyễn Văn D là 99.335.756đ (Chín mươi chín triệu, ba trăm ba mươi năm nghìn, bẩy trăm năm mươi sáu đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự theo luật định.
Án xử xong, ngày 13/9/2024 anh Nguyễn Văn D có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo như nội dung đơn khởi kiện.
Tại phiên tòa bà T đại diện cho anh D trình bày: Lý do anh D kháng cáo bởi, Tòa án cấp sơ thẩm khi xem xét giải quyết bồi thường do công ty S anh D trái pháp luật tòa án chỉ căn cứ mức tiền lương cơ bản theo hợp đồng lao động được ký kết giữa anh D và Công ty TNHH R là 9,6 triệu để tính các khoản bồi thường là không đúng. Theo hợp đồng lao động ký ngày 01/3/2022 giữa Công ty TNHH R và anh D, các bên thỏa thuận thời hạn của hợp đồng là 36 tháng (thời gian thử việc 2 tháng); Công việc phải làm: Kỹ sư phòng FM, Phó chủ quản chủ quản bộ phận vật chất; Về quyền lợi người lao động: L cơ bản là 9.600.000.00đ; Phụ cấp theo qui chế lương, thưởng của công ty; Hình thức thanh toán tiền lương thông qua chuyển khoản vào ngày 10 hàng tháng, Thời gian làm việc 6 ngày/tuần (26 ngày/tháng). Về tiền lương: Ngoài chi trả cho người lao động lương cơ bản theo hợp đồng lao động, công ty còn chi trả cho người lao động phụ cấp gồm phụ cấp chuyên cần, phụ cấp nhà ở, phụ cấp đi lại. Thực tế trong thời gian làm việc tại công ty, ngoài được công ty C2 anh D còn được công ty chi trả các khoản phụ cấp, tiền lương và phụ cấp lương anh D thực nhận trung bình 6 tháng trước khi bị công ty S là: 16.673.447 đồng/tháng. Kèm đơn kháng cáo anh D gửi bản sao Bảng lương từ tháng 7 đến tháng 12/2023.
Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho Công ty TNHH R khẳng định:, Công ty không có bất cứ quyết định nào bổ nhiệm anh D vào vị trí lãnh đạo, anh D chỉ là nhân viên, theo hợp đồng lao động giữa công ty và anh D về tiền lương các bên thỏa thuận là 9,6 triệu đồng/tháng, theo thỏa ước lao động tập thể ngoài tiền lương người lao động còn được công ty hỗ trợ chi phí chỗ ở, chi phí chuyên cần, chi phí đi lại với mức hỗ trợ như sau: Chi phí nơi ở: 250.000đ/tháng, chi phí đi lại là: 200.000đ/tháng; Chi phí chuyên cần là: 500.000đ/tháng do vậy số tiền lương và trợ cấp anh D được công ty chi trả theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động là 10.550.000đ/tháng. Anh D1 và người đại diện cho anh D trình bày thu nhập lương phụ cấp lương trung bình của anh D là 16.673.447đ/tháng là bao gồm cả tiền làm thêm giờ, tiền thưởng tiền thưởng do hiệu quả do hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty mang lại, Tài liệu chứng cứ là bảng lương anh D gửi sau khi có đơn kháng cáo không phải là tài liệu do công ty P, không có dấu, chữ ký của kế toán và người đại diện công ty nên không có giá trị chứng minh, để đảm bảo quyền lợi cho anh D đại diện công ty N1 bồi thường các khoản cho anh D theo mức tiền lương và trợ cấp là 10.550.000đ/tháng.
Ngoài ra đại diện công ty cũng cho biết anh D được lãnh đạo công ty bổ nhiệm giữ chức vụ phó trưởng bộ phận vật chất và theo qui định của công ty anh D được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm theo qui định của công ty là 982.000đ/ tháng
Cũng tại phiên tòa, sau khi đánh giá việc chấp hành pháp luật của thẩm phán chủ tọa phiên tòa, các thành viên hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa cũng như việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đại diện các đương sự là nghiêm túc, đúng pháp luật. Về nội dung vụ án: Đại diện VKSND đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của BLTTDS, bác đơn kháng cáo của anh Nguyễn Vắn D2, giưa nguyên Bản án lao động sơ thẩm số: 02/2024/LĐST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn thấy, anh D2 khởi kiện yêu cầu TAND huyện Yên Phong nơi chủ sử dụng lao động là Công ty TNHH R có trụ sở tại: Lô C, Khu công nghiệp Y (khu mở rộng), xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh phải bồi thường các quyền lợi cho anh do ngày 13/01/2024 công ty có quyết định sa thải anh trái pháp luật. Căn cứ vào thời hiệu khởi kiện tranh chấp lao động cá nhân được qui định tại khoản 3 Điều 190 của BLLĐ, căn cứ vào thẩm quyền giải quyết vụ án theo loại việc, theo cấp tòa án và theo lãnh thổ được qui định tại điểm a khoản 1 Điều 32 điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thấy, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải quyết vụ án là đúng pháp luật.
[2] Xét đơn kháng cáo của anh Nguyễn Văn D đối với Bản án lao động sơ thẩm số: 02/2024/LĐST, ngày 30/8/2024 thấy: Sau khi án sơ thẩm xử, ngày 13/9/2024 anh D có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án. Nhận thấy đơn kháng cáo của anh D được làm và gửi trong thời hạn luật định, phù hợp với qui định tại các Điều 271, 272 và 273 của BLTTDS là hợp lệ, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Xét nội dung quyết định của bản án sơ thẩm thấy: Ngày 01/3/2022 giữa anh Nguyễn Văn D và Công ty TNHH R1 có thỏa thuận ký Hợp đồng lao động số: EWS-00104, theo hợp đồng công ty tuyển dụng anh D làm vào làm việc với công việc phải làm là: HSE Engineer, phòng ban: FM; Với thời hạn theo hợp đồng là 36 tháng. Về chế độ anh D được công ty C2 cơ bản 9,6 triệu đồng, đóng BHXH, BHYT, BHTT, ngoài ra người lao động được công ty hỗ trợ các khoản trợ trợ cấp khác theo thỏa ước lao động tập thể và nội qui của công ty. Ngày 12/01/2024, bà Nguyễn Thị Phương T1- Phụ trách nhân sự có gọi anh D lên trao đổi, cho rằng anh nhận tiền của đối tác và làm rõ vì sao anh D lại nói xấu bà. Tiếp đến chiều ngày 13/01/2024 anh D được cán bộ nhân sự mời lên tham gia dự họp xét kỷ luật lao đồng và tại cuộc họp này Công ty đã ra quyết định số: 130124/QĐ-RCVN sa thải, chấm dứt quan hệ lao động với anh D từ ngày 15/3/2024. Không đồng ý với quyết định sa thải anh D có đơn khiếu lại sau đó có đơn khởi kiện gửi tòa án nhân dân huyện Yên Phong giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án thấy, trình tự, thủ tục họp và ra quyết định sa thải đối với người lao động của công ty chưa đúng qui định của pháp luật nên ngày 28/6/2024 Công ty TNHH R đã ra văn bản hủy bỏ Quyết định số: 130124/QĐ-RCVN ngày 13/01/2024 và có thư mời anh Nguyễn Văn D trở lại công ty làm việc bắt đầu từ ngày 05/7/2024 và thanh toán các chế độ cho anh D theo qui định của công ty, tuy nhiên anh D không đồng trở lại công ty làm việc. Anh Dũng vẫn yêu cầu tòa án giải quyết buộc công ty phải bồi thường tổng số tiền là 198.869.035đ, gồm các khoản như sau:
- - Bồi thường 02 tháng tiền lương tương đương với số tiền là 16.673.447 đồng x 2 tháng = 33.346.894 đồng.
- - Bồi thường cho anh D số tiền trong những ngày anh D không được làm việc tại công ty từ ngày 15/01/2024 đến ngày xét xử (ngày 30/8/2024) làm tròn với số tiền là 124.000.000₫.
- - Bồi thường trả tiền trợ cấp thôi việc theo quy định tại khoản 2 Điều 41, Điều 46 Bộ luật lao động 2019 và Điều 8 Nghị định 145/2020 NĐ-CP trong 02 tháng thử việc của anh D (2 tháng không tham gia Bảo hiểm thất nghiệp) tương ứng với ¼ tháng tiền lương của anh D x 16.673.447 đồng = 4.168.361 đồng.
- - Trả tiền BHXH, BHYT cho anh D trong những thời gian anh D không được tham gia BHXH tại công ty từ tháng 1/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm bằng (21,5% x 9.600.000) x 8 tháng = 16.512.000 đồng.
- - Bồi thường cho anh D trong những ngày không được báo trướclà 20.841.780 đồng.
Xét nội dung kháng cáo của anh D thấy:
- - Đối với yêu cầu buộc công ty xin lỗi công khai thấy: Ngày 28/6/2024 Công ty TNHH R đã hủy bỏ Quyết định số: 130124/QĐ-RCVN ngày 13/01/2024 và có văn bản mời anh Nguyễn Văn D trở lại công ty làm việc nhưng anh D không đồng ý quay trở lại làm việc. Nhận thấy, phía Công ty TNHH R đã nhận thức được việc sa thải anh Nguyễn Văn D là không đúng với quy định của pháp luật và đã chủ động ra quyết định hủy bỏ quyết định sa thải, mời anh D quay trở lại làm việc đã thể hiện rõ thái độ, thiện chí và ý thức trách nhiệm của công ty đối với quyết định của mình, anh D yêu cầu công ty xin lỗi công khai trên phương tiện thông tin trong khi công ty không hề có việc bôi nhọ hay xúc phạm danh dự, nhân phẩm đối với anh D nên thấy yêu cầu này của anh D không có căn cứ chấp nhận.
- - Đối với yêu cầu kháng cáo của anh D về mức tiền lương 9,6 triệu đồng mà tòa án cấp sơ thẩm áp dụng làm căn cứ để tính bồi thường các khoản do sa thải và đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, hội đồng thấy: Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa phúc thẩm anh D, người đại diện hợp pháp cho anh D đề nghị tòa án lấy mức thu nhập bình quân thực nhận của anh D 6 tháng trước khi bị sa thải là 16.673.447đ/tháng để làm căn cứ tính bồi thường theo qui định tại Điều 41 của BLLĐ, để chứng minh bà T là người đại diện cho anh D cung cấp cho tòa án bản sao kê chuyển khoản thanh toán tiền lương của Ngân hàng V1 và bảng lương của anh D từ tháng 7 đến tháng 12/2023. Song theo quan điểm của người đại diện cho Công ty R và người bảo vệ quyền lợi cho Công ty R tổng thu nhập của anh D theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể được công ty chi trả là 10.550.000đ/tháng, bao gồm: Lương cơ bản theo hợp đồng 9.600.000đ, trợ cấp đi lại là 200.000đ, trợ cấp chỗ ở là 250.000đ, trợ cấp chuyên cần: 500.000đ, ngoài ra nếu trong thời gian làm việc anh D làm thêm giờ thì được chi trả tiền làm thêm giờ, tiền lương anh D trình bay thực lĩnh bình quân của 6 tháng trước khi công ty có quyết định sa thải là 16.673.447đ bao gồm cả tiền lương làm thêm giờ và tiền thưởng do hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty thưởng cho người lao động, bảng lương tháng do anh D xuất trình không phải công ty phát hành và không có giá trị chứng minh. Công ty C3 lấy mức tiền lương 10.550.000đ/tháng đề làm căn cứ tính các khoản để bồi thường cho anh D theo qui định của pháp luật.
Nhận thấy quá trình tố tụng giữa anh D và công ty không thống nhất được với nhau về tiền lương, thu nhập, song căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy: Theo thỏa thuận tại hợp đồng lao động và thỏa ước lao đồng tập thể, thu nhập của anh D trong thời gian làm việc tại công ty, ngoài được công ty chi trả lương cơ bản là 9.600.000đ, hàng tháng anh D hay những người lao động khác còn được công ty hỗ trợ tiền chi phí chỗ ở: 200.000đ, Tiền chi phí đi lại 250.000đ, tiền chi phí chuyên cần 500.000₫ và các khoản thu nhập này là thường xuyên, ổn định. Ngoài tiền lương, các khoản trợ cấp ổn định như đã nêu, trong thời gian làm việc tại công ty nếu người lao động làm thêm giờ thì được trả lương làm thêm giờ, ngoài ra hàng tháng căn cứ vào hiệu quả SXKD công ty còn thưởng cho người lao động, song khoản tiền công làm thêm giờ và tiền thưởng là khoản thu nhập không mang tính không thường xuyên, không ổn định do vậy anh D xác định thu nhập bình quân là 16.673.447đ/tháng (bao gồm tiền lương theo hợp đồng lao động, tiền lương làm thêm giờ, tiền trợ cấp và tiền thưởng) để làm căn cứ tính bồi thường là không đúng qui định tại Điều 90 của BLLĐ.
Căn cứ vào mức tiền lương theo hợp đồng lao động đã được ký kết giữa người lao động với người sử dụng lao động và mức trợ cấp cho người lao động được qui định tại thỏa ước lao động tập thể đã được đại diện người lao động ký với chủ sử dụng lao động thấy, tòa án cấp sơ thẩm khi xác định mức tiền lương để làm căn cứ tính các khoản bồi thường cho anh D với mức lương cơ bản theo hợp đồng là 9.6000.000đ/tháng mà không xem xét đến các khoản trợ cấp như: Chi phí chỗ ở, chi phí đi lại, chi phí chuyên cần được qui định tại thỏa ước lao động tập thể là thiếu sót, không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho anh D. Trong vụ án này tòa án cấp sơ thẩm khi xác định tiền lương để làm căn cứ tính bồi thường cho anh D phải bao gồm: Lương cơ bản + các khoản trợ cấp đi lại, chỗ ở, chuyên cần với tổng số tiền lương là 10.550.000đ/tháng mới phù hợp.
Vì các lẽ trên thấy cần chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Văn D, sửa bản án sơ thẩm buộc Công ty TNHH R2 phải bồi thường như anh D các khoản cụ thể như sau:
- - Bồi thường 02 tháng tiền lương tương đương với số tiền là: 10.550.000₫ X 2 tháng =21.100.000 đồng.
- - Bồi thường cho anh D số tiền trong những ngày anh D không được làm việc tại công ty từ ngày 20/01/2024 đến ngày xét xử (ngày 05/7/2024) là 5 tháng 15 ngày là: (10.550.000đ x 5 tháng) + [10.550.000đ :26 ] x 15 ngày)= 52.750.000đồng + 6 086.538 đồng = 58.836.538 đồng.
- - Bồi thường trả tiền trợ cấp thôi việc cho anh D theo quy định tại khoản 2 Điều 41, Điều 46 Bộ luật lao động 2019 và Điều 8 Nghị định 145/2020 NĐ-CP trong 02 tháng thử việc của anh D (2 tháng không tham gia Bảo hiểm thất nghiệp) tương ứng với ¼ tháng tiền lương của anh D là: 4.168.361 đồng.
- - Trả tiền BHXH, BHYT, BHTT cho anh D trong những thời gian anh D không được tham gia BHXH tại công ty từ tháng 1/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm bằng (21,5% x 9.600.000) x 8 tháng = 11.352.000 đồng.
- - Bồi thường cho anh D trong những ngày không được báo trước là : (10.550.000:26 ngày) x 30 ngày =12.173.076 đồng.
Tổng số tiền Công ty TNHH R phải bồi thường cho anh D là: 107.629.975 đồng
Từ những phân tích trên cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn D sửa bản án sơ thẩm buộc Công ty TNHH R phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn D tổng số tiền là 108.379.975 đồng.
[4] Về án phí:- Đối với án phi lao động sơ thẩm do Tòa án sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu kháng cáo tăng mức bồi thường nên theo qui định cần cũng cần sửa và tính lại nghĩa vụ chịu án phí của bị đơn.
Đối với án phí lao động phúc thẩm: Do kháng cáo của anh D được chấp nên anh D không phải chịu án phí lao động phúc thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 2 Điều 308 của BLTTDS, chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyễn Văn D, sửa Bản án lao động sơ thẩm số: 02/2024/LĐST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ Điều 5, Điều 6, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm đ khoản 1 Điều 40, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 147, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Bộ luật lao động năm 2019. Điều 21, Điều 85, Điều 86 và Điều 89 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn D.
- + Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn D về việc đề nghị Huỷ bỏ Quyết định số: 130124/QĐ-RCVN ngày 13/01/2024 của Công ty TNHH R; Tuyên bố hợp đồng lao động giữa anh Nguyễn Văn D và Công ty TNHH R chấm dứt.
- + Buộc Công ty TNHH R phải bồi thường, trả cho anh Nguyễn Văn D các khoản tiền sau:
- - Bồi thường 02 tháng tiền lương tương đương với số tiền là: 10.550.000₫ x 2 tháng = 21.100.000 đồng.
- - Bồi thường cho anh D số tiền trong những ngày anh D không được làm việc tại công ty từ ngày 20/01/2024 đến ngày xét xử (ngày 05/7/2024) là 5 tháng 15 ngày là: (10.550.000₫ x 5 tháng) + [10.550.000₫ :26 ] x 15 ngày)= 52.750.000đồng + 6. 086.538 đồng = 58. 836.538 đồng.
- - Bồi thường trả tiền trợ cấp thôi việc cho anh D theo quy định tại khoản 2 Điều 41, Điều 46 Bộ luật lao động 2019 và Điều 8 Nghị định 145/2020 NĐ-CP trong 02 tháng thử việc của anh D (2 tháng không tham gia Bảo hiểm thất nghiệp) tương ứng với ¼ tháng tiền lương của anh D là: 4.168.361 đồng.
- - Trả tiền BHXH, BHYT, BHTT cho anh D trong những thời gian anh D không được tham gia BHXH tại công ty từ tháng 1/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm bằng (21,5% x 9.600.000) x 8 tháng = 11.352.000 đồng.
- - Bồi thường cho anh D trong những ngày không được báo trước là : (10.550.000: 26 ngày) x 30 ngày = 12.173.076 đồng.
Tổng số tiền Công ty TNHH R phải thanh toán trả cho anh Nguyễn Văn D là: 107.629.975 đồng.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí LĐST: Công ty TNHH R phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 3.229.000 đồng. Hoàn trả anh Nguyễn Văn D số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số BLTU/23/0002311 ngày 19/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Anh D3 không phải chịu án phí phúc thẩm.
3. Án phí DSPT: Anh Dũng không phải chịu án phí LĐPT.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014./.
Án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thế Bình |
Bản án số 02/2025/LĐPT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải
- Số bản án: 02/2025/LĐPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp sa thải giữa Anh Nguyễn Văn Dũng, sinh năm 1994 và Công ty TNHH Rocom Electric Việt Nam.
