Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/KDTM - ST

Ngày 25 tháng 3 năm 2025

“V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Đào Tuyết Thanh
  2. Ông Nguyễn Văn Hiệp

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Hạnh Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 57/2024/RLST-KDTM ngày 23/10/2024 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐST-KDTM ngày 04/3/2025 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N1 (V)

Địa chỉ trụ sở chính: Số A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T – Tổng Giám đốc.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Ngọc T1 – Giám đốc Ngân hàng V - Chi nhánh H1 (Theo Giấy ủy quyền số 176/UQ-VCB-PC ngày 11/3/2024);

Ông T1 ủy quyền tham gia tố tụng cho:

  1. Bà Hoàng Minh H – Trưởng phòng giao dịch L – V – Chi nhánh H1;
  2. Ông Lê Thái Hồng C – Phó Trưởng phòng giao dịch L – VCB – Chi nhánh H1.

Địa chỉ: Tòa C B, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội.

(Theo Giấy ủy quyền số 59/UQ-HAN.LĐ ngày 24/4/2024);

+ Bị đơn: Công ty CP G

Địa chỉ: Số F N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim T2 - Giám đốc. Căn cước công dân số [...] do Cục C1 về TTXH cấp ngày 23/07/2019; ĐKHKTT tại: Số F N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo chỉ định của Tòa án: Bà Lê Bích N; sinh năm 1994; CCCD số: [...] do Cục C1 về TTXH cấp ngày 22/11/2021; Nơi cư trú: Số F N, Đ, H, Hà Nội (là cổ đông sáng lập Công ty);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Tại Đơn khởi kiện đề ngày 20/4/2023; Bản tự khai và những lời trình bày tiếp theo tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh H1 (gọi tắt là V Chi nhánh H1) và Công ty CP G đã ký Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 01/21/13926498/OTO/HĐCV/38859 ngày 15 tháng 10 năm 2021, cụ thể:

  • Số tiền cho vay: 1.678.000.000 VNÐ
  • Thời hạn cho vay: 84 tháng
  • Mục đích sử dụng vốn vay: thanh toán tiền mua xe M, BKS: 30H-222.04 theo Hợp đồng mua bán số 569/2021/HĐBH ngày 08/10/2021
  • Lãi suất cho vay: Theo quy định tại Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 01/21/13926498/OTO/HĐCV/38859 ngày 15 tháng 10 năm 2021
  • Ngày giải ngân vốn vay lần đầu: 15/10/2021 với số tiền: 1.678.000.000 VNĐ. Khách hàng đã ký Lịch trả nợ số 1 với VCB Chi nhánh H1
  • Tổng số tiền Khách hàng đã rút vốn: 1.678.000.000 VNĐ

Để đảm bảo cho khoản vay, V Chi nhánh H1 và Công ty CP G (đồng thời là Bên Thế Chấp) đã ký Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 01/21/13926498/OTO/LĐ/HĐTC/38859 ngày 15 tháng 10 năm 2021. Tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô mới, chi tiết như sau:

Nhãn hiệu: Mercedes-Benz E200 Exclusive, Số máy: 26492030423899

Màu sơn: Đen, Số khung: RLMZF8AX1MV004889

Số chỗ ngồi: 05, Biển kiểm soát: 30H-222.04.

Trong khoảng thời gian từ ngày giải ngân vốn vay lần đầu đến hết kỳ trả nợ tháng 3 năm 2023, Khách hàng trả nợ bình thường, cho đến kỳ trả nợ tháng 4 năm 2023 bắt đầu phát sinh chậm thanh toán và gây nên nợ quá hạn.

Tính đến hết ngày 13/5/2023, Bị đơn đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền: 555.943.184 đồng, trong đó tiền lãi đã trả: 197.141.358 đồng, tiền gốc đã trả: 358.801.826 đồng.

Từ thời điểm sau ngày 13/5/2023 Bị đơn không thanh toán được thêm khoản nào cho Ngân hàng. Ngày 13/5/2023 khoản nợ của Bị đơn chuyển sang nợ quá hạn.

Ngân hàng V1 Chi nhánh H1 nhiều lần yêu cầu Công ty Cổ phần G xuất trình tài sản bảo đảm là chiếc ô tô Mercedes – M, BKS: 30H – 222.04 để Ngân hàng tiến hành kiểm tra tài sản và định giá lại định kỳ hàng năm theo quy định. Tuy nhiên, khách hàng vẫn liên tục không thực hiện đúng theo các Biên bản làm việc đã kí giữa Ngân hàng và khách hàng. Qua nhiều lần làm việc với Giám đốc Công ty Cổ phần G là bà Nguyễn Thị Kim T2, khách hàng đều đưa ra các thông tin không thống nhất với nhau khiến Ngân hàng gặp khó khăn trong việc xác định vị trí của tài sản. Xe ô tô nói trên đã hết hạn giấy đi đường (do Ngân hàng cấp) từ tháng 10 năm 2022, bản gốc Giấy chứng nhận phương tiện vận tải vẫn đang được lưu giữ tại Ngân hàng.

Hiện tại, V1 Chi nhánh H1 đã tìm mọi cách để liên hệ với khách hàng nhưng điện thoại khách hàng không liên lạc được, khách hàng hiện không có mặt tại địa chỉ thường trú (Số F N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội) và cũng không đến trụ sở Chi nhánh V1 từ ngày 21/04/2023. Tài sản bảo đảm là chiếc ô tô Mercedes - M, BKS: 30H – 222.04 hiện đang được thu giữ tại Trụ sở VCB Chi nhánh H1.

Căn cứ các nội dung nêu trên, Ngân hàng V yêu cầu Tòa án tuyên buộc như sau:

  1. Buộc Công ty Cổ phần G phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho VCB toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi tạm tính đến hết ngày 02/3/2025 là: 1.582.718.096 VNĐ (Bằng chữ: Một tỷ, năm trăm tám mươi hai triệu, bảy trăm mười tám nghìn, không trăm chín mươi sáu đồng), trong đó:
    • -Nợ gốc vay: 1.319.198.174 VNĐ,
    • -Nợ lãi vay quá hạn: 251.460.330 VNĐ
    • -Lãi phạt trên gốc chậm trả: 12.059.592 VNĐ
  2. Bị đơn Công ty Cổ phần G phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 01/21/13926498/OTO/HĐCV/38859 ngày 15 tháng 10 năm 2021 và các phụ lục phát sinh, kể từ ngày 03/3/2025 cho đến khi Công ty Cổ phần G trả hết nợ gốc cho VCB.
  3. Trường hợp bị đơn Công ty Cổ phần G không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì VCB thông qua VCB Chi nhánh H1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên và phát mại tài sản bảo đảm chiếc ô tô Mercedes-Benz E200 Exclusive, Số máy: 26492030423899; Màu sơn: Đen, Số khung: RLMZF8AX1MV004889; Số chỗ ngồi: 05, Biển kiểm soát: 30H-222.04 đứng tên Công ty Cổ phần G theo Hợp đồng thế chấp số 01/21/13926498/OTO/LĐ/HĐTC/38859 ngày 15/10/2021 để thu hồi nợ cho VCB theo quy định của pháp luật.
  4. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho VCB thì bị đơn Công ty Cổ phần G tiếp tục phải có trách nhiệm trả nợ theo quy định của pháp luật.

[2] Bị đơn Công ty CP G:

Theo thông tin do Phòng Đăng ký kinh doanh và Tài chính doanh nghiệp – Sở Tài chính Thành phố H cung cấp tại Văn bản số 158/CCTT - ĐKKD ngày 20/3/2025, Công ty CP G có thông tin mã số doanh nghiệp: 0108179031; Đăng ký lần đầu ngày 08/3/2018; Đăng ký thay đổi lần thứ 1” ngày 27/9/20219; Địa chỉ trụ sở chính: Số F N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim T2 – Giám đốc; CCCD số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 23/7/2019; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số F N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội;

Tình trạng pháp lý: Đang hoạt động.

Toà án đã tiến hành xác minh, tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng đối với bị đơn Công ty CP G và đại diện theo pháp luật của bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim T2 theo quy định.

Xác minh tại Công an phường Đ cung cấp: Bà Nguyễn Thị Kim T2 có ĐKHKTT tại số F N, Đ, H, Hà Nội tuy nhiên hiện không sinh sống tại F N, hiện chưa có thông tin về nơi ăn ở sinh sống thực tế của bà T2. Ngoài ra tại địa chỉ F N có chị Lê Bích N và chị Lê Hà L (là con đẻ bà T2) có đăng ký HKTT và đang sinh sống tại đây.

Theo hồ sơ, tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, các cổ đông sáng lập Công ty CP G gồm có:

  1. Cổ đông 1: Bà Nguyễn Thị Kim T2;
  2. Cổ đông 2: Bà Lê Bích N, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Số F N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội;
  3. Cổ đông 3: Bà Lê Hà L, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Số F N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội;

Ngày 20/02/2025, Toà án đã có Thông báo số 01/2025/TB-TA về việc chỉ định: Bà Lê Bích N, sinh năm 1994; CCCD số [...] do Cục C1 về TTXH cấp ngày 22/11/2021; Nơi cư trú: Số F N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội là cổ đông sáng lập Công ty sẽ là Người đại diện theo pháp luật của Công ty CP G tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm trong quá trình giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 57/2024/TLST – DS ngày 23/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo đơn khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N1 (V).

[3] Tại lời khai ngày 20/02/2025, bà Lê Thị Bích N – Đại diện theo chỉ định của Toà án trình bày:

Bà là con đẻ của bà Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1970 – Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty CP G. Bà xác nhận thời điểm thành lập Công ty CP G bà và em gái Lê Hà L, sinh năm 1996 và mẹ là bà Nguyễn Thị Kim T2 là cổ đông sáng lập Công ty. Hiện tại bà Nguyễn Thị Kim T2 không sống tại địa chỉ F N nữa, bà T2 hiện đang sinh sống ở đâu bà không có thông tin, bà T2 từ lâu cũng không liên lạc gì với gia đình. Công ty CP G có địa chỉ tại F N, hiện không còn hoạt động gì nữa, bà cũng không có tài liệu, chứng cứ gì về Công ty hoặc tài liệu chứng cứ gì liên quan đến vụ án để giao nộp cho Toà án. Việc Toà án chỉ định bà làm người đại diện theo pháp luật của Công ty để tham gia tố tụng trong vụ án bà hoàn toàn nhất trí không có ý kiến gì. Bị đơn không có yêu cầu phản tố, không có tài liệu, chứng cứ gì để giao nộp cho Toà án.

Theo thông báo của Tòa án, Ngân hàng TMCP N1 khởi kiện yêu cầu Công ty CP G như sau:

  1. Buộc Công ty CP G phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho VCB toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi tạm tính đến hết ngày 21/01/2025 là: 1.567.954.624 đồng, trong đó: Nợ gốc vay: 1.319.198.174 đồng; Nợ lãi vay quá hạn: 238.015.352 đồng; Lãi phạt trên gốc chậm trả: 10.741.098 đồng;
  2. Bị đơn Công ty CP G phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 01/21/13926498/OTO/HĐCV/38859 ngày 15 tháng 10 năm 2021 và các phụ lục phát sinh, kể từ ngày 22/01/2025 cho đến khi Công ty CP G trả hết nợ gốc cho VCB.
  3. Trường hợp bị đơn Công ty Cổ phần G không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì VCB thông qua VCB Chi nhánh H1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên và phát mại tài sản bảo đảm chiếc ô tô Mercedes-Benz E200 Exclusive, Số máy: 26492030423899; Màu sơn: Đen, Số khung: RLMZF8AX1MV004889; Số chỗ ngồi: 05, Biển kiểm soát: 30H-222.04 đứng tên Công ty CP G theo Hợp đồng thế chấp số 01/21/13926498/OTO/LD/HĐTC/38859 ngày 15/10/2021 để thu hồi nợ cho VCB theo quy định của pháp luật.
  4. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho VCB thì bị đơn Công ty Cổ phần G tiếp tục phải có trách nhiệm trả nợ theo quy định của pháp luật.

Về việc Ngân hàng khởi kiện Công ty CP G như trên, bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, bà sẽ có mặt tại Toà án để tham gia tố tụng theo yêu cầu.

[4] Tại lời khai ngày 05/3/2025 của bà Lê Hà L – Là cổ đông sáng lập Công ty CP G trình bày:

Bà là con đẻ của bà Nguyễn Thị Kim T2 – Giám đốc Công ty CP G. Bà L xác nhận thời điểm thành lập Công ty CP G, bà là cố đông sáng lập công ty. Bà L đồng ý việc Toà án chỉ định bà Lê Bích N là đại diện theo pháp luật của Công ty. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và không đưa bà vào tham gia tố tụng trong vụ án. Trường hợp Toà án đưa bà vào tham gia tố tụng, bà xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, phiên họp và phiên toà xét xử vụ án trên.

[5] Tại phiên tòa,

[5.1] Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Buộc bị đơn Công ty CP G phải thanh toán khoản nợ theo hợp đồng tín dụng tạm tính đến hết ngày 24/3/2025 là 1.590.881.512 đồng; trong đó nợ gốc là 1.319.198.174 đồng; nợ lãi quá hạn là 258.855.069 đồng; lãi phạt trên gốc chậm trả là 12.828.269 đồng; Bị đơn còn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh kể từ sau ngày 24/3/2025 đối với khoản nợ gốc, lãi chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và giữ nguyên các yêu cầu khác. Xác nhận tài sản đảm bảo là xe ô tô Mercedes-Benz E200 Exclusive, Biển kiểm soát: 30H-222.04 của bị đơn hiện nguyên đơn đang tạm giữ tại trụ sở Ngân hàng từ ngày 18/4/2024;

[5.2] Bà Lê Bích N đại diện của bị đơn theo chỉ định trình bày: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

[5.3] Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Việc yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ; thu thập chứng cứ; tiến hành thủ tục tố tụng được tiến hành công khai, minh bạch, khách quan theo đúng trình tự, thủ tục của Bộ Luật Tố tụng dân sự. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và các đương sự đã thực hiện đầy đủ theo quy định tại Điều 22 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Về thời hạn chuẩn bị xét xử vi phạm quy định tại Điều 203 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Về án phí, bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

1.1 Về thẩm quyền:

Xét thấy, ngày 15/10/2021 Ngân hàng TMCP N1 (V) - Chi nhánh H1 ký kết Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 01/21/13926498/OTO/HĐCV/38859 với Công ty CP G có địa chỉ trụ sở chính tại số F N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội.

Ngày 26/7/2024, nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 có đơn khởi kiện đề ngày 03/5/2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn là Công ty CP G và Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý vụ án kinh doanh thương mại về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng là đúng thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2 Về thủ tục tố tụng:

Xét thấy, tại đơn khởi kiện nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi bị đơn có trụ sở và địa chỉ của người đại diện theo pháp luật được ghi trong Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Căn cước công dân của cá nhân. Tuy nhiên sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được Thông báo Thụ lý vụ án cho bị đơn Công ty CP G và người đại diện theo pháp luật của bị đơn không còn cư trú, không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp.

Như vậy, trường hợp này thuộc trường hợp người bị kiện thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được coi là cố tình giấu địa chỉ.

Toà án đã xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng tại các địa chỉ trụ sở bị đơn và địa chỉ của đại diện theo pháp luật của bị đơn tại số F N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội theo quy định.

Quá trình giải quyết vụ án, ngày 20/02/2025 Toà án đã có Thông báo số 01/2025/TB-TA về việc chỉ định: Bà Lê Bích N, sinh năm 1994; CCCD số [...] do Cục C1 về TTXH cấp ngày 22/11/2021; Nơi cư trú: Số F N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội là cổ đông sáng lập Công ty sẽ là Người đại diện theo pháp luật của Công ty CP G tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm trong quá trình giải quyết vụ án căn cứ Điều 13 của Luật Doanh Nghiệp.

Tại phiên toà có mặt bà Lê Bích N, do đó căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ Luật Tố tụng Dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2017/NQ – HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán trả nguyên đơn số tiền theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 01/21/13926498/OTO/HĐCV/38859 ngày 15/10/2021:

Xét thấy, ngày 15/10/2021 Ngân hàng TMCP N1 (V) - Chi nhánh H1 ký kết Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 01/21/13926498/OTO/HĐCV/38859 với Công ty CP G với nội dung như sau:

  • Số tiền cho vay: 1.678.000.000 đồng;
  • Thời hạn cho vay: 84 tháng
  • Mục đích sử dụng vốn vay: thanh toán tiền mua xe M, BKS: 30H-222.04 theo Hợp đồng mua bán số 569/2021/HĐBH ngày 08/10/2021;
  • Lãi suất cho vay: Theo quy định tại Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 01/21/13926498/OTO/HĐCV/38859 ngày 15 tháng 10 năm 2021;

Lãi suất cho vay trong hạn: 8,6%/năm và cố định trong 24 tháng kể từ ngày giải ngân. Sau thời gian áp dụng lãi suất cố định: Lãi suất cho vay = Lãi suất huy động tiết kiệm VNĐ 12 tháng trả lãi cuối kỳ áp dụng với khách hàng cá nhân của VCB cộng (+) 3,5%/năm nhưng không thấp hơn sàn cho vay cùng kỳ hạn của sản phẩm theo thông báo của V tại thời điểm đó. Kỳ điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần ... Trường hợp khách hàng bị phân loại nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 trong thời gian hưởng ưu đãi lãi suất:

Áp dụng mức lãi suất = Lãi suất sau thời gian ưu đãi kể từ thời điểm khách hàng bị phân loại nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5;

Trường hợp khách hàng chuyển lại nợ nhóm 1 (sau khi bị phân loại nợ nhóm 2 đến nhóm 5) khách hàng sẽ không được hưởng mức lãi suất ưu đãi trở lại...

Ngày giải ngân vốn vay lần đầu: 15/10/2021 với số tiền: 1.678.000.000 đồng.

Để đảm bảo cho khoản vay, Công ty CP G (đồng thời là Bên Thế Chấp) đã ký Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 01/21/13926498/OTO/LĐ/HĐTC/38859 ngày 15 tháng 10 năm 2021. Tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô mới, chi tiết như sau:

Nhãn hiệu: Mercedes-Benz E200 Exclusive, Số máy: 26492030423899;

Màu sơn: Đen, Số khung: RLMZF8AX1MV004889

Số chỗ ngồi: 05, Biển kiểm soát: 30H-222.04.

Tên chủ xe: Công ty CP G; Địa chỉ: Số F N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội (Theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29096835 do Công an Thành phố H cấp ngày 14/10/2021); Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 15/10/2021;

Xét nội dung thoả thuận của các bên trong Hợp đồng cho vay là hoàn toàn tự nguyện, tuân thủ về hình thức và nội dung, phù hợp với các quy định của pháp luật về điều kiện cho vay, lãi suất... quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi năm 2017); Thông tư số 39/2016/TT – NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và Văn bản số 1168/VCB-CSKH&SPBL ngày 29/3/2021 của Ngân hàng TMCP N1 (V) về việc triển khai chương trình cho vay lãi suất cố định dành cho khách hàng bán lẻ năm 2021;

Do bị đơn không thanh toán được tiền nợ gốc, lãi đúng hạn theo thoả thuận trong Hợp đồng cho vay, nên nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ theo các Hợp đồng cho vay là có căn cứ và phù hợp thoả thuận trong hợp đồng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Theo đó, cần buộc bị đơn Công ty CP G phải thanh toán trả nợ số tiền nợ gốc, lãi tạm tính đến hết ngày 24/3/2025 là: 1.590.881.512 đồng; trong đó nợ gốc là 1.319.198.174 đồng; nợ lãi quá hạn là 258.855.069 đồng; lãi phạt trên gốc chậm trả là 12.828.269 đồng và bị đơn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh kể từ sau ngày 24/3/2025 đối với khoản nợ gốc, lãi chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay.

[3] Về yêu cầu của nguyên đơn đối với việc xử lý tài sản đảm bảo:

Hội đồng xét xử thấy rằng, các bên tham gia giao dịch thỏa thuận ký kết hợp đồng thế chấp để bảo đảm cho khoản vay của bị đơn đều có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi, đều hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, giao dịch đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.

Căn cứ các Điều 317, 319, 320, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015; nên nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý phát mại tài sản thế chấp để thu hồi số tiền nợ gốc, lãi theo Hợp đồng cho vay là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp.

Tại khoản 6 Điều 320 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nghĩa vụ của bên thế chấp tài sản là: “Giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều 299 của Bộ luật này...”;

Và tại khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền của bên nhận thế chấp: “Xử lý tài sản thế chấp khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này”.

Điều 299 quy định: “Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm:

1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.”

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc: Trong trường hợp Bị đơn Công ty CP G không thanh toán được số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay thì Nguyên đơn Ngân hàng V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là: 01 xe ô tô nhãn hiệu Mercedes-Benz E200 Exclusive; Màu sơn: Đen; Số máy: 26492030423899; Số khung: RLMZF8AX1MV004889; Biển kiểm soát: 30H-222.04; Tên chủ xe: Công ty CP G; Địa chỉ: Số F N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội (Có Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29096835 do Công an Thành phố H cấp ngày 14/10/2021); Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 15/10/2021;

Theo đúng thoả thuận tại Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 01/21/13926498/OTO/LĐ/HĐTC/38859 ngày 15 tháng 10 năm 2021.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí:

Bị đơn Công ty CP G phải chịu án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch đối với số tiền phải thanh toán trả nguyên đơn theo quy định là 59.726.445 đồng.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 (V) không phải chịu án phí kinh doanh thương mại. Trả lại cho nguyên đơn số tiền 28.082.000 đồng tạm ứng án phí kinh doanh thương mại đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm theo Biên lai thu số 0069080 ngày 22/10/2024.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 184; khoản 1 Điều 227; Điều 235; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 317, 319, 320, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 91, 95 Luật Các Tổ chức Tín dụng năm 2010 (Nay là Điều 100, 103 của Luật Các Tổ chức Tín dụng năm 2024);

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Nghị quyết số 04/2017/NQ – HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Thông tư số 39/2016/TT – NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

Thông tư số 06/2023/TT – NHNN ngày 28/6/2023 của Ngân hàng N2 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 39/2016/TT – N3 ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 (VCB) đối với bị đơn Công ty CP G về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”;
  2. Buộc bị đơn Công ty CP G phải có nghĩa vụ thanh toán trả nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 (VCB) số tiền nợ gốc, lãi theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 01/21/13926498/OTO/HĐCV/38859 ngày 15/10/2021 tạm tính đến hết ngày 24/3/2025 là 1.590.881.512 (Một tỷ năm trăm chín mươi triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn năm trăm mười hai) đồng; trong đó nợ gốc là 1.319.198.174 (Một tỷ ba trăm mười chín triệu một trăm chín mươi tám nghìn một trăm bảy mươi bốn) đồng; nợ lãi quá hạn là 258.855.069 (Hai trăm năm mươi tám triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn không trăm sáu mươi chín) đồng; lãi phạt trên gốc chậm trả là 12.828.269 (Mười hai triệu tám trăm hai mươi tám nghìn hai trăm sáu mươi chín) đồng;
  3. Bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh kể từ sau ngày 24/3/2025 cho đến khi thanh toán xong số nợ gốc, lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay. Theo Hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bị đơn phải tiếp tục thanh toán cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  4. Trường hợp bị đơn Công ty CP G không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán số nợ theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 01/21/13926498/OTO/HĐCV/38859 ngày 15/10/2021 như trên thì nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 (VCB) có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý phát mại tài sản thế chấp là: 01 xe ô tô nhãn hiệu Mercedes-Benz E200 Exclusive; Màu sơn: Đen; Số máy: 26492030423899; Số khung: RLMZF8AX1MV004889; Biển kiểm soát: 30H-222.04; Tên chủ xe: Công ty CP G; Địa chỉ: Số F N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội (Có Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29096835 do Công an Thành phố H cấp ngày 14/10/2021); Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 15/10/2021;

Theo đúng nội dung thoả thuận tại Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 01/21/13926498/OTO/LĐ/HĐTC/38859 ngày 15 tháng 10 năm 2021.

  1. Trường hợp sau khi phát mại tài sản, số tiền thu được không đủ để thanh toán các nghĩa vụ theo Hợp đồng cho vay tại VCB thì Bị đơn phải tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn thiếu cho Nguyên đơn.
  2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Bị đơn Công ty CP G phải chịu số tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải thanh toán trả nguyên đơn là 59.726.445 (Năm mươi chín triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn bốn trăm bốn mươi lăm) đồng.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 (V) không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn số tiền 28.082.000 (Hai mươi tám triệu không trăm tám mươi hai nghìn) đồng tạm ứng án phí kinh doanh thương mại đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm theo Biên lai thu số 0069080 ngày 22/10/2024.

  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hánh án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Văn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/KDTM - ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 02/2025/KDTM - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng Ngân hàng TMCP N1 (V) - công ty CP G
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger