TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE Bản án số: 02/2025/KDTM-ST Ngày: 13-6-2025 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Minh Quang; Bà Đào Thị Tuyết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Phan Hoàng Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 02/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 110/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2025/QĐST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N
Địa chỉ trụ sở chính: Số B, đường H, phường T, Quận Đ, Thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V. Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Hưng Q. Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh huyện N.
Địa chỉ: Số B, đường C, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre (theo văn bản ủy quyền số 350/UQ-NHNo.BĐ-TH ngày 09 tháng 12 năm 2024).
2. Bị đơn: Ông Lê Quốc C, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Diễm P, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
(Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Phạm Hưng Q có mặt; ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/9/2024; các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng N người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P đã ký kết Hợp đồng vay vốn với Ngân hàng N - Chi nhánh huyện B theo Hợp đồng tín dụng số 7104-LAV-202201617 ngày 18/05/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 7104-LAV-202201617D/HĐSĐ,BS ngày 16/06/2023.
Ngày 18/11/2022, ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P đã nhận số tiền vay là 5.850.000.000 đồng, thời hạn cho vay 06 tháng, hạn trả nợ cuối cùng ngày 18/5/2023, lãi suất cho vay 8,5%/năm (tương đương 0,708%/tháng), mục đích vay để bổ sung vốn lưu động mua bán chế biến tôm khô các loại.
Tài sản bảo đảm tiền vay theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 22284/HĐTC ngày 11/5/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2023.06.05B/ HĐSĐ,BS ngày 16/06/2023 là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất 714,4m², thửa đất số 38, tờ bản đồ số 56, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 641717, số vào số cấp giấy CS08321, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/4/2022 cho bà Ngô Diễm P. Giá trị tài sản được định giá là 1.863.330.000 đồng.
Hiện nay ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P đã vi phạm Hợp đồng tín dụng số 7104-LAV-202201617 ngày 18/5/2022.
Tính đến ngày khởi kiện (ngày 27/09/2024), ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P còn nợ Ngân hàng N số tiền là 1.730.046.184 đồng, trong đó: Nợ gốc là 1.549.547.828 đồng; Nợ lãi là 180.498.356 đồng (bao gồm: Lãi trong hạn là 152.917.021 đồng; Lãi quá hạn là 22.075.750 đồng; Lãi chậm nộp là 5.505.585 đồng).
Nay Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Buộc ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P phải trả cho Ngân hàng N - Chi nhánh huyện B số tiền tổng cộng là 1.702.804.476 đồng, trong đó: Nợ gốc là 1.549.547.828 đồng; Lãi tính đến ngày khởi kiện (ngày 27/09/2024) là 153.256.648 đồng.
Đồng thời, ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P còn phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 27/09/2024 cho Ngân hàng N theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 18/5/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 16/6/2023 cho đến khi ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P trả tất nợ.
- Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất 714,4m², thửa đất số 38, tờ bản đồ số 56, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 641717, số vào sổ cấp giấy CS08321, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/4/2022 cho bà Ngô Diễm P, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 22284/HĐTC ngày 11/5/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2023.06.05B/HĐSĐ,BS ngày 16/6/2023 theo quy định của pháp luật để đảm bảo việc thu hồi nợ của Ngân hàng.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Nguyên đơn giữ nguyên lời trình bày nêu trên về quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng giữa hai bên. Tính đến ngày xét xử hôm nay, số tiền ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P còn nợ và buộc phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N là 1.863.222.628 đồng, trong đó: Nợ gốc là 1.549.547.828 đồng; Lãi tính đến ngày xét xử (ngày 13/6/2025) là 313.674.800 đồng (gồm lãi trong hạn là 237.611.484 đồng, lãi quá hạn là 64.412.368 đồng, lãi chậm nộp là 11.650.948 đồng).
Đồng thời, ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P còn phải trả lãi trên số nợ gốc là 1.549.547.828 đồng phát sinh kể từ ngày 14/6/2025 cho Ngân hàng N theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 18/5/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 16/6/2023 cho đến khi ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P trả tất nợ.
Trường hợp ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ, Ngân hàng N được quyền yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 22284/HĐTC ngày 11/5/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2023.06.05B/HĐSĐ,BS ngày 16/6/2023 để thu hồi nợ.
Nguyên đơn đồng ý với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án và số tiền đã chi cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và án phí, yêu cầu ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P phải chịu toàn bộ.
Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ đến tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 463, 465, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:
Buộc ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P phải trả cho Ngân hàng N - Chi nhánh huyện B số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm.
Đồng thời, ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P còn phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 14/6/2025 cho Ngân hàng N theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 18/5/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 16/6/2023 cho đến khi ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P trả tất nợ.
Trường hợp ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ, Ngân hàng N được quyền yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 22284/HĐTC ngày 11/5/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2023.06.05B/HĐSĐ,BS ngày 16/6/2023 để thu hồi nợ.
Về chi phí tố tụng, án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của đương sự, xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Tại đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện, nguyên đơn Ngân hàng N khởi kiện tranh chấp về tiền cho vay để bổ sung vốn lưu động mua bán chế biến tôm khô các loại đối với ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P (Hộ kinh doanh D do ông Lê Quốc C đại diện Hộ kinh doanh, theo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 55F8002964 do Phòng Tài chính và Kế hoạch huyện B cấp đổi lần thứ nhất ngày 16/4/2018, đăng ký lần đầu ngày 04/9/2009).
Tại hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận lựa chọn giải quyết tranh chấp (nếu có, trong trường hợp không thương lượng được) thì Tòa án nhân dân nơi đóng trụ sở của Ngân hàng N - Chi nhánh huyện B có thẩm quyền giải quyết. Xét thỏa thuận này của các bên là không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là loại tranh chấp về kinh doanh thương mại với quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Quá trình thụ lý vụ án, Tòa án xác định đây là quan hệ pháp luật về dân sự là chưa chính xác, vì vậy, Hội đồng xét xử xác định lại như trên cho phù hợp.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự được triệu tập tham gia phiên tòa:
Bị đơn ông Lê Quốc C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Diễm P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P.
[1.3] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P đều không có ý kiến phản đối xem như mặc nhiên thừa nhận các tài liệu, chứng cứ này. Đây là những tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Hội đồng xét xử sử dụng những tài liệu, chứng cứ này để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 7104-LAV-202201617 ngày 18/05/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 7104-LAV - 202201617D/HĐSĐ,BS ngày 16/06/2023 và Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 7104-LDS-2022.05094 ngày 18/11/2022 giữa Ngân hàng N với ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P (do ông Lê Quốc C là người đại diện theo ủy quyền, theo văn bản ủy quyền số 2020.118.01.2022/HĐUQ ngày 18/5/2022) có nội dung thể hiện Ngân hàng N có cho ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P vay số tiền 5.850.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng, mục đích vay để bổ sung vốn lưu động mua bán chế biến tôm khô các loại, lãi suất theo thỏa thuận. Xét về hình thức và nội dung của các hợp đồng tín dụng này là phù hợp với quy định tại các điều 116, 117, 118, 119, 385, 401, 421 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 8, 100, 102 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 nên phát sinh hiệu lực pháp luật từ thời điểm giao kết.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Vì vậy, xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N về việc buộc ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc là 1.549.547.828 đồng và lãi suất tính đến ngày xét xử (ngày 13/6/2025) là 313.674.800 đồng (gồm lãi trong hạn là 237.611.484 đồng, lãi quá hạn là 64.412.368 đồng, lãi chậm nộp là 11.650.948 đồng), tổng cộng là 1.863.222.628 đồng, đồng thời, yêu cầu tiếp tục tính lãi trên số nợ gốc kể từ ngày 14/6/2025, theo Hợp đồng tín dụng số: 7104-LAV-202201617 ngày 18/05/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số: 7104-LAV-202201617D/HĐSĐ,BS ngày 16/06/2023 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ của các hợp đồng này là phù hợp với quy định tại Điều 103 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; các điều 8, 9, 10, 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và Án lệ số 08/2016/AL17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu của Ngân hàng N về việc yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, thấy rằng:
Tài sản đảm bảo cho khoản vay là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất với diện tích đất 714,4m², thửa đất số 38, tờ bản đồ số 56, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 641717, số vào sổ cấp giấy CS08321, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/4/2022 cho bà Ngô Diễm P, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 22284/HĐTC ngày 11/5/2022 (được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 11/5/2022, số chứng thực 334, quyển số 01/2022-SCT/HĐ,GD) và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2023.06.05B/HĐSĐ,BS ngày 16/6/2023 (được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 16/6/2023, số chứng thực 270, quyển số 01-SCT/HĐ,GD).
Thấy rằng, việc thế chấp tài sản để đảm bảo cho việc vay vốn đã được các bên thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục đăng ký thế chấp. Về hình thức và nội dung của các hợp đồng thế chấp nêu trên phù hợp với quy định tại các điều 317, 318, 500, 501, 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013. Do vậy, trong trường hợp ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P không trả được hoặc trả không hết số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng tín dụng sửa đổi, bổ sung nêu trên thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 22284/HĐTC ngày 11/5/2022 và Hợp đồng sửa
đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2023.06.05B/HĐSĐ,BS ngày 16/6/2023 để thu hồi nợ.
[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Ngân hàng N đã nộp 500.000 đồng để chi cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ và Hội đồng xem xét, thẩm định tại chỗ đã chi phí hết. Nay yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N được chấp nhận nên buộc ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng N số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 500.000 đồng.
[5] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P phải chịu toàn bộ với số tiền được tính như sau: 36.000.000 đồng + 3% x (1.863.222.628 đồng – 800.000.0000 đồng) = 67.896.678 đồng.
Trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 30, 35, 39, 92, 147, 157, 227, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng các điều 116, 117, 118, 119, 317, 318, 385, 401, 421, 500, 501, 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013; các điều 8, 100, 102, 103 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 các điều 8, 9, 10, 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và Án lệ số 08/2016/AL17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn ông Lê Quốc C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Diễm P về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc là 1.549.547.828 (một tỷ năm trăm bốn mươi chín triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn tám trăm hai mươi tám) đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 13/6/2025 là 313.674.800 (ba trăm mười ba triệu sáu trăm bảy mươi bốn nghìn tám trăm) đồng, tổng cộng là 1.863.222.628 (một tỷ tám trăm sáu mươi ba triệu hai trăm hai mươi hai nghìn sáu trăm hai mươi tám) đồng.
Ngân hàng N được quyền tiếp tục tính lãi trên số nợ gốc phát sinh kể từ ngày 14/6/2025, theo Hợp đồng tín dụng số 710 4-LAV-202201617 ngày 18/05/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 7104-LAV -
202201617D/HĐSĐ,BS ngày 16/06/2023 đã giao kết cho đến khi ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P trả tất nợ.
Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng nêu trên, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà người phải thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trong trường hợp ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ theo các hợp đồng tín dụng nêu trên thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 22284/HĐTC ngày 11/5/2022 (được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 11/5/2022, số chứng thực 334, quyển số 01/2022-SCT/HĐ,GD) và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2023.06.05B/HĐSĐ,BS ngày 16/6/2023 (được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 16/6/2023, số chứng thực 270, quyển số 01-SCT/HĐ,GD) để thu hồi nợ.
2. Chi phí tố tụng: Buộc ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng N số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 500.000 (năm trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Buộc ông Lê Quốc C và bà Ngô Diễm P phải nộp 67.896.678 (sáu mươi bảy triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi tám) đồng.
Trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 31.950.693 (ba mươi mốt triệu chín trăm năm mươi nghìn sáu trăm chín mươi ba) đồng theo biên lai thu số 0008131 ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thùy Dung |
Bản án số 02/2025/KDTM-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 02/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N và ông Lê Quốc C
