Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/KDTM-ST

Ngày 09/4/2025

"V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Ánh

Ông Nguyễn Khương Duy

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số : 50/2024/TLST - KDTM ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2025; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/2025/TB-TA ngày 05/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; trụ sở đóng tại: Số B đường N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Tân A – Phó phòng G - Ngân hàng TMCP S chi nhánh Q (Giấy ủy quyền ngày 02/01/2024).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L; cùng địa chỉ: Số F, Q, Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S trình bày:

Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Q - Phòng G (S1) cho Ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L vay vốn theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 14/04/2022 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số [...]-01 ngày 27/03/2023. Theo đó, Ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L đã nhận nợ vay với số tiền: 1.750.000.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng), cụ thể.

- Giấy nhận nợ số LD2408100671, ngày nhận nợ 21/03/2024, ngày đáo hạn 21/09/2024, số tiền vay: 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng), mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động hàng điện, điện tử.

- Giấy nhận nợ số LD2408200326, ngày nhận nợ 22/03/2024, ngày đáo hạn 22/09/2024, số tiền vay: 850.000.000 đồng (T1 trăm năm mươi triệu đồng), mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động hàng điện, điện tử.

Phương thức trả: Trả lãi hàng tháng, gốc trả cuối kỳ.

Lãi suất trong hạn 6,6%/năm, lãi quá hạn bằng 150% của lãi trong hạn, lãi trả vào ngày 20 hàng tháng.

- Biện pháp bảo đảm: Thế chấp 01 tài sản là bất động sản như sau:

Thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 439, tờ bản đồ số 54, Khu phố T, Phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số CX926035; số vào số cấp GCN: CS12111 do Sở T2 cấp ngày 29/03/2021, cập nhật thay đổi nội dung lần cuối ngày 24/12/2021. Thuộc quyền sở hữu của Ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L.

Ngày 21/09/2024, do Ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L vi phạm nghĩa vụ trả nợ, S1 đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.

Mặc dù S1 thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp để yêu cầu ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời S1 cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L trả nợ. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Tính đến ngày 23/10/2024, ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L còn nợ S1 tổng số tiền là 1.775.010.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm bảy mươi lăm triệu, không trăm mười nghìn đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.750.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 19.936.000 đồng; Lãi quá hạn: 5.074.000 đồng.

Vì vậy, Ngân hàng TMCP S khởi kiện và yêu cầu Toà án giải quyết:

1. Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L phải trả cho Ngân hàng TMCP S với tổng số tiền tính đến thời điểm ngày 23/10/2024 là 1.775.010.000 đồng (bằng chữ: Một tỷ, bảy trăm bảy mươi lăm triệu, không trăm mười nghìn đồng), trong đó:

  • Nợ gốc : 1.750.000.000 đồng
  • Lãi trong hạn: 19.936.000 đồng
  • Lãi quá hạn : 5.074.000 đồng
  • Và lãi phát sinh kể từ ngày 24/10/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng.

2. Trong trường hợp ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ còn lại thì S1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành phát mãi toàn bộ tài sản bảo đảm, cụ thể:

Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 439, tờ bản đồ số 54, tại khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có diện tích 209,5m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số CX926035; số vào số cấp GCN: CS12111 do Sở T2 cấp ngày 29/03/2021, cập nhật thay đổi nội dung lần cuối ngày 24/12/2021. Thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.

3. Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp mà không thu đủ nợ thì khoản nợ còn lại ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L có trách nhiệm tiếp tục thanh toán.

Tại phiên tòa Ngân hàng TMCP S yêu cầu bổ sung khoản tiền lãi tính đến ngày 09/4/2025. Tổng số tiền yêu cầu là 1.855.057.534 đồng (bằng chữ: Một tỷ, tám trăm năm mươi lăm triệu không trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi tư đồng), trong đó:

  • Nợ gốc: 1.750.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng)
  • Lãi trong hạn: 73.413.698 đồng (bảy mươi ba triệu bốn trăm mười ba nghìn sáu trăm chín mươi tám đồng)
  • Lãi quá hạn: 31.643.836 đồng (Ba mươi mốt triệu sáu trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng)
  • Và lãi phát sinh kể từ ngày 10/4/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 299, 317, 319, 320, 323 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc 1.750.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 09/4/2025 là 105.057.534 đồng, trong đó lãi trong hạn: 73.413.698 đồng, lãi quá hạn: 31.643.836 đồng. Và lãi phát sinh tính theo lãi suất thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng cùng các khế ước nhận nợ đã ký kể từ ngày 10/4/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trong trường hợp Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nêu trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm của khoản vay là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 439, tờ bản đồ số 54, Khu phố T, Phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có diện tích 209,5m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số CX926035; số vào số cấp GCN: CS12111 do Sở T2 cấp ngày 29/03/2021, cập nhật thay đổi nội dung lần cuối ngày 24/12/2021.

- Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm.

- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP S với ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L phát sinh từ quan hệ tín dụng, mục đích lợi nhuận. Ông T và bà L có địa chỉ cư trú tại Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Do đó xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 28/02/2025, phiên toà lần thứ hai ngày 21/3/2025, ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt, có đơn trình bày do ốm đau không thể tham gia phiên tòa. Tại Phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do, nguyên đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn bổ sung khoản tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, nên được chấp nhận.

[3] Về nội dung: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:

[3.1] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền gốc:

Theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 14/04/2022 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số [...]-01 ngày 27/03/2023. Ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L đã nhận nợ vay với số tiền: 1.750.000.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng), cụ thể:

- Giấy nhận nợ số LD2408100671, ngày nhận nợ 21/03/2024, ngày đáo hạn 21/09/2024, số tiền vay: 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng).

- Giấy nhận nợ số LD2408200326, ngày nhận nợ 22/03/2024, ngày đáo hạn 22/09/2024, số tiền vay: 850.000.000 đồng (T1 trăm năm mươi triệu đồng).

Về hình thức và nội dung hợp đồng đúng quy định của pháp luật, hợp đồng đã có hiệu lực, nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, đến ngày 21/09/2024 ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Ngân hàng TMCP S đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn và tiến hành thu hồi nợ, căn cứ quy định tại điểm 2.1 mục 2 của Các điều khoản chung về cấp tín dụng, là một phần không tách rời của hợp đồng tín dụng. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L trả cho Ngân hàng số tiền gốc còn nợ Theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 14/04/2022 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số [...]-01 ngày 27/03/2023; Giấy nhận nợ số LD2408100671, ngày nhận nợ 21/03/2024 số tiền 900.000.000 đồng; Giấy nhận nợ số LD2408200326, ngày nhận nợ 22/03/2024 là 850.000.000 đồng, tổng cộng 1.750.000.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng).

[3.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền lãi:

Theo hợp đồng tín dụng số [...] ngày 14/04/2022 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số [...]-01 ngày 27/03/2023; Giấy nhận nợ số LD2408100671, ngày nhận nợ 21/03/2024, số tiền vay là 900.000.000 đồng; Giấy nhận nợ số LD2408200326, ngày nhận nợ 22/03/2024, số tiền vay là 850.000.000 đồng. Lãi suất 6,6%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% của lãi trong hạn, lãi trả vào ngày 20 hàng tháng. Xét thấy, mức lãi suất các bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L có nghĩa vụ trả lãi cho Ngân hàng tính đến ngày 09/4/2025, cụ thể:

- Đối với Giấy nhận nợ số LD2408100671, ngày nhận nợ 21/03/2024, số tiền vay là 900.000.000 đồng: Số tiền lãi là: 54.029.589 đồng (Năm mươi tư triệu không trăm hai mươi chín nghìn năm trăm tám mươi chín đồng), trong đó:

+ Lãi trong hạn: Từ ngày 21/8/2024 đến 09/4/2025 ( 232 ngày): 900.000.000 đồng x 6,6% : 365 ngày x 232 ngày = 37.755.616 đồng (Ba mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười sáu đồng).

+ Lãi quá hạn: Từ ngày 22/9/2024 đến 09/4/2025 (200 ngày): 900.000.000 đồng x 3,3% : 365 ngày x 200 ngày = 16.273.973 đồng (Mười sáu triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn chín trăm bảy mươi ba đồng).

- Đối với Giấy nhận nợ số LD2408200326, ngày nhận nợ 22/03/2024, số tiền vay là 850.000.000 đồng: Số tiền lãi là: 51.027.945 đồng (Năm mươi mốt triệu không trăm hai mươi bảy nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó:

+ Lãi trong hạn: Từ ngày 21/8/2024 đến 09/4/2025 (232 ngày): 850.000.000 đồng x 6,6% : 365 ngày x 232 ngày = 35.658.082 đồng (Ba mươi lăm triệu sáu trăm năm mươi tám nghìn không trăm tám mươi hai đồng).

+ Lãi quá hạn: Từ ngày 22/9/2024 đến 09/4/2025 (200 ngày): 850.000.000 đồng x 3,3% : 365 ngày x 200 ngày = 15.369.863 đồng (Mười lăm triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng).

- Tổng lãi là: 105.057.534 đồng (Một trăm lẽ năm triệu không trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi tư đồng), trong đó lãi trong hạn: 73.413.698 đồng (bảy mươi ba triệu bốn trăm mười ba nghìn sáu trăm chín mươi tám đồng), lãi quá hạn: 31.643.836 đồng (Ba mươi mốt triệu sáu trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng). Tổng cả gốc và lãi là: 1.855.057.534 đồng (Một tỷ, tám trăm năm mươi lăm triệu không trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi tư đồng).

Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L còn phải tiếp tục chịu lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 10/4/2025 cho đến khi tất toán khoản vay.

[3.3] Đối với yêu cầu về xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp tài sản số 202204081931167 ngày 14 tháng 4 năm 2022: Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 439, tờ bản đồ số 54, tại khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có diện tích 209,5m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số CX926035; số vào số cấp GCN: CS12111 do Sở T2 cấp ngày 29/03/2021, cập nhật thay đổi nội dung lần cuối ngày 24/12/2021, thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L. Xét thấy, hợp đồng thế chấp được ký kết trên cơ sở tự nguyện của các bên, có công chứng và đăng ký tài sản thế chấp theo đúng quy định pháp luật về thế chấp tài sản quy định tại khoản 2 Điều 292, Điều 298, khoản 1 Điều 299, Điều 317, Điều 319 của Bộ luật Dân sự và khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai.

Qua xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp, thấy rằng: Ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L đã sử dụng diện tích đất đúng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, trong trường hợp ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L không trả nợ hoặc chỉ trả được một phần khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 14/04/2022 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số [...]-01 ngày 27/03/2023; Giấy nhận nợ số LD2408100671, Giấy nhận nợ số LD2408200326 thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp số 202204081931167 ngày 14 tháng 4 năm 2022. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 439, tờ bản đồ số 54, tại khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có diện tích 209,5m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số CX926035; số vào số cấp GCN: CS12111 do Sở T2 cấp ngày 29/03/2021, cập nhật thay đổi nội dung lần cuối ngày 24/12/2021 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L, để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.

[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:

ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 2.620.000 đồng, Ngân hàng đã nộp đủ toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chổ, nên ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 2.620.000 đồng.

[5] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn 1.855.057.534 đồng là: [36.000.000 đồng + (1.055.057.534 đồng x 3%)] = 67.651.726 đồng (Sáu mươi bảy triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn bảy trăm hai mươi sáu đồng).

Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 299, Điều 317, Điều 319 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai; khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng, xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S:

[1.1] Về nghĩa vụ trả nợ:

Buộc ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S tính đến ngày 09/4/2025 số tiền 1.855.057.534 đồng (Một tỷ, tám trăm năm mươi lăm triệu không trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi tư đồng), trong đó tiền gốc là 1.750.000.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng), tiền lãi là 105.057.534 đồng (Một trăm lẽ năm triệu không trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi tư đồng), bao gồm lãi trong hạn: 73.413.698 đồng (bảy mươi ba triệu bốn trăm mười ba nghìn sáu trăm chín mươi tám đồng), lãi quá hạn: 31.643.836 đồng (Ba mươi mốt triệu sáu trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng) theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 14/04/2022 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số [...]-01 ngày 27/03/2023; Giấy nhận nợ số LD2408100671, ngày nhận nợ 21/03/2024; Giấy nhận nợ số LD2408200326, ngày nhận nợ 22/03/2024.

Ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L còn phải tiếp tục chịu tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký như trên kể từ ngày 10/4/2025 cho đến khi tất toán khoản vay.

[1.2] Về xử lý tài sản thế chấp:

Trong trường hợp ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ còn lại thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 439, tờ bản đồ số 54, tại khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có diện tích 209,5m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số CX926035; số vào số cấp GCN: CS12111 do Sở T2 cấp ngày 29/03/2021, cập nhật thay đổi nội dung lần cuối ngày 24/12/2021, thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn T và Bà Lê Thị Khương L. Theo hợp đồng thế chấp tài sản số 202204081931167 ngày 14 tháng 4 năm 2022 giữa bên thế chấp là ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L với bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Q-Phòng G, để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.

[1.3] Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp mà không thu đủ khoản nợ thì ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L có trách nhiệm tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng TMCP S.

[2] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:

Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 2.620.000 đồng (Hai triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng), Ngân hàng TMCP S đã nộp đủ toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, nên ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 2.620.000 đồng (Hai triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng).

[3] Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Khương L phải chịu 67.651.726 đồng (Sáu mươi bảy triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn bảy trăm hai mươi sáu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp là 32.625.150 đồng (Ba mươi hai triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn một trăm năm mươi đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000606 ngày 25/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND thành phố Đông Hà;
  • - Các đương sự;
  • - THADS thành phố Đông Hà;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đoàn Thị quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/KDTM-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 02/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S-Nguyễn Văn T+Lê Thị Khương L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger