Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/KDTM-PT
Ngày: 27-02 - 2025
V/v tranh chấp “Hợp đồng mua bán hàng hóa"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Keo
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng Thám, bà Phan Thị Minh Tâm
Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Ngọc Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Phạm Hoàng Lưu – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2025/TLPT-KDTM ngày 31 tháng 12 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Do bản án kinh doanh thương mại số: 07/2024/KDTM-ST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-KDTM ngày 31 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S; địa chỉ: Lầu B, số A - A V, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là Công ty S).

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1966; địa chỉ: Số E (Lầu B) N, Phường C, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền số 02.10/2023-SGTK ngày 02/10/2023) (có mặt).

- Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn S; địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (sau đây viết tắt là Công ty S).

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Võ Đạt N, sinh năm 1984; đăng ký thường trú: Số B, ấp B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên ngày 25/4/2023) (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Hồ Hoàng P, sinh năm 1971; địa chỉ: Số A (số cũ là 82Bis) Trần Hưng Đ, tổ A, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (theo Giấy ủy quyền số 554 ngày 24/02/2025) (có mặt).

Người kháng cáo: Công ty Cổ phần S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn do ông Nguyễn Thành L đại diện trình bày:

Công ty S với Công ty S có ký kết Hợp đồng cung ứng gạo xuất khẩu số 39/HĐCU-ĐN/23 ngày 14/7/2023 (sau đây viết tắt là Hợp đồng số 39). Theo đó, Công ty S bán cho Công ty S 2.000 tấn gạo, loại 25% tấm, giá 10.940.000 đồng/tấn; thời hạn giao hàng vào cuối tháng 7/2023; phương thức giao hàng: tùy nghi, không quy định cụ thể; phương thức thanh toán: trong thời hạn 02 (hai) ngày làm việc, Công ty S sẽ thanh toán 70% giá trị hàng hóa đối với số hàng mà Công ty S đã giao cho Công ty S; mục đích Công ty S mua gạo của Công ty Đ1 để bán lại cho Công ty P1. Để đảm bảo thực hiện Hợp đồng số 39, Công ty S đã đặt cọc cho Công ty S số tiền 6.564.000.000 đồng (tương đương 30% của giá trị Hợp đồng số 39).

Ngày 25/7/2023, Công ty S có thông báo yêu cầu Công ty S giao 2.160 tấn gạo theo thỏa thuận, thời gian giao hàng tại kho là ngày 27/7/2023. Từ ngày 28/7/2023 đến ngày 31/7/2023, Công ty S đã giao cho Công ty S tổng cộng 1.000 tấn gạo, tổng giá trị là 10.940.000.000 đồng; ngày 28/7/2023, Công ty S đã chuyển cho Công ty S số tiền 5.000.000.000 đồng. Ngày 03/8/2023, Công ty S có thông báo yêu cầu Công ty S giao 998 tấn gạo theo Hợp đồng số 39 nhưng Công ty S không giao hàng theo thỏa thuận nên Công ty S khởi kiện yêu cầu Công ty S thanh toán tổng số tiền bồi thường 3.000.037.900 (ba tỷ, không trăm ba mươi bảy nghìn, chín trăm) đồng, cụ thể gồm các khoản sau:

  • - Tiền phạt vi phạm hợp đồng: 998 (tấn gạo 25% tấm) x 10.940.000 (đồng/tấn) x 20% (giá trị hợp đồng vi phạm) = 2.183.624.000 (hai tỷ, một trăm tám mươi ba triệu, sáu trăm hai mươi bốn nghìn) đồng.
  • - Tiền bồi thường khoản lợi nhuận mất đi (lợi nhuận mà Công ty S sẽ nhận được nếu Công ty S giao 998 tấn gạo 25% tấm để Công ty S xuất khẩu bán cho đối tác nước ngoài): 998 (tấn gạo 25% tấm) x 818.050 (đồng/tấn) = 816.413.900 (tám trăm mười sáu triệu, bốn trăm mười ba nghìn, chín trăm) đồng.

Bị đơn Công ty S do bà Hồ Hoàng P đại diện trình bày:

Ngày 14/7/2023, Công ty S với Công ty S có xác lập Hợp đồng số 39. Theo đó, Công ty S bán cho Công ty S 2.000 tấn gạo, đơn giá 10.940.000 đồng/tấn; phương thức giao hàng: Giao hàng từng lần; phương thức thanh toán: trong thời hạn 02 (hai) ngày làm việc, Công ty S sẽ thanh toán 70% giá trị hàng hóa đối với số hàng mà Công ty S giao cho Công ty S. Để đảm bảo thực hiện Hợp đồng số 39, Công ty S đã đặt cọc 30% giá trị của hợp đồng mua bán đối với 2.000 tấn gạo là 6.564.000.000 đồng.

Ngày 25/7/2023, Công ty S ban hành thông báo yêu cầu Công ty S giao 2.160 tấn gạo theo Hợp đồng số 39. Từ ngày 27/7/2023 đến ngày 31/7/2023, Công ty S đã giao được 1.000 tấn gạo, tổng giá trị 10.940.000.000 đồng. Theo thỏa thuận, Công ty S phải trả 70% giá trị hàng hóa của số tiền 10.940.000.000 đồng là 7.658.000.000 đồng, còn lại 30% giá trị hàng hóa tương đương số tiền 3.282.000.000 đồng sẽ trừ vào số tiền đặt cọc; đồng thời, Công ty S có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền 7.658.000.000 đồng trong thời hạn 02 (hai) ngày làm việc kể từ ngày 31/7/2023 nên thời hạn thanh toán của Công ty S là từ ngày 01/8/2023 đến ngày 02/8/2023. Ngày 28/7/2023, Công ty S đã chuyển tiền thanh toán cho Công ty S số tiền 5.000.000.000 đồng, còn nợ lại Công ty S số tiền 2.658.000.000 đồng. Tuy nhiên, Công ty S đã nhiều lần yêu cầu Công ty S Thiên Kim thanh toán tiền hàng hóa còn nợ với số tiền 2.658.000.000 đồng trong thời hạn từ ngày 01/8/2023 đến ngày 02/8/2023 theo thỏa thuận nhưng Công ty S không thực hiện nên Công ty S mới đơn phương chấm dứt hợp đồng và không tiếp tục giao hàng theo yêu cầu của Công ty S. Mặt khác, giá xuất khẩu gạo do Công ty S cung cấp là không chính xác. Do đó, Công ty S không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án số sơ thẩm số: 07/2024/KDTM-ST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới đã xử:

Căn cứ: Điều 30, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 428, 440 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 50, 51, 55, 300, 301, 302, 303 Luật Thương mại;

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S

Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo, án phí và thi hành án của đương sự;

Ngày 06/8/2024, Công ty Cổ phần S kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn S phải bồi thường số tiền 2.183.624.000đ và tiền bồi thường khoản lợi nhuận mất đi (lợi nhuận mà Công ty S sẽ nhận được nếu Công ty S giao 998 tấn gạo 25% tấm để Công ty S xuất khẩu bán cho đối tác nước ngoài): 998 (tấn gạo 25% tấm) x 818.050 (đồng/tấn) = 816.413.900đ;

Tại phiên tòa phúc thẩm, rút một phần yêu cầu kháng cáo đối với số tiền 816.413.900đ do lợi nhuận bị mất và nộp Chứng thư chất lượng, số lượng và trọng lượng của Công ty cổ phần G; các đương sự không thỏa thuận được với nhau.

Phần tranh luận:

Ông Nguyễn Thành L trình bày ý kiến tranh luận: Công ty S với Công ty trách nhiệm hữu hạn S có ký kết Hợp đồng cung ứng gạo xuất khẩu số 39/HĐCU-ĐN/23 ngày 14/7/2023. Theo đó, Công ty S bán cho Công ty S 2.000 tấn gạo, loại 25% tấm, giá 10.940.000 đồng/tấn; thời hạn giao hàng vào cuối 7/2023; nhưng Công ty S mới giao 1.000 tấn vào ngày 31/7/2023, còn 1.000 tấn chưa giao thì đã

ngưng nên Công ty S đã vi phạm nghĩa vụ giao đủ hàng, Công ty không có bất cứ lý do gì để biện minh, nhưng Công ty S đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không có sự đồng ý của Công ty S là vi phạm hợp đồng; về chậm thanh toán không phải là vi phạm nghiêm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty S đối với Công ty S, sửa bản án sơ thẩm buộc Công ty S có nghĩa vụ bồi thường số tiền 2.183.624.000đ.

Công ty S rút lại yêu cầu về tiền bồi thường khoản lợi nhuận mất đi với số tiền 816.413.900₫

Bà Hồ Hoàng P đại diện cho bị đơn trình bày ý kiến tranh luận: Bà hoàn toàn đồng ý với bản án sơ thẩm, trong quá trình thực hiện hợp đồng dù giá gạo tăng cao nhưng Công ty S vẫn giao, không có lỗi, Công ty S phải thanh toán đủ để Công ty S mua gạo để giao đủ nhưng Công ty S không thanh toán là lỗi của Công ty S. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Công ty S kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh nội dung kháng cáo là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Nguyên đơn kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty S trong hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí kháng cáo phúc thẩm theo thông báo của Tòa án nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
  2. Công ty S và Công ty S đều có đăng ký kinh doanh, là các thương nhân, mục đích lợi nhuận, các bên tranh chấp về Hợp đồng mua bán hàng nên pháp luật điều chỉnh Luật thương mại 2005 và các Văn bản hướng dẫn thi hành;
  3. Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty S rút một phần yêu cầu kháng cáo đối với bồi thường thiệt hại do mất lợi nhuận của 998 tấn gạo với số tiền 816.413.900₫ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét nội dung này; Công ty S yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét buộc Công ty S bồi thường 20% giá trị của 998 tấn gạo không giao với số tiền: 2.182.624.000đ theo như nội dung Hợp đồng 39.
  4. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu kháng cáo của Công ty S có nghĩa vụ bồi thường số tiền 2.182.624.000đ. Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng 39 được Công ty S và Công ty S ký kết trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận giao kết, không bị ép buộc hay đe dọa nên có giá trị pháp lý. Các bên không tranh chấp về tiêu chuẩn, chất lượng hàng hóa mà tranh chấp theo Công ty S cho rằng do Công ty S chậm thanh toán tiền hàng; Công ty S lại cho rằng Công ty S không giao đủ số lượng hàng hóa nên Công ty S bị phạt với bên thứ 3 do đó Công ty S phải bị phạt 20% giá trị hợp đồng 39.
    1. Theo các Điều khoản thỏa thuận của Hợp đồng 39, thì thời hạn giao hàng hóa là cuối tháng 7/2023 được hiểu hết ngày 31/7/2023, Công ty S phải giao cho Công ty S 2.000 tấn gạo, loại 25% tấm. Tuy nhiên, đến ngày 31/7/2023, Công ty S mới giao được 1.000 tấn thực hiện đạt 50% số lượng hàng hóa cần phải giao.
    2. Theo Biên bản đối chất ngày 02/02/2024, trả lời cho câu hỏi của chủ trì phiên đối chất: Các bên đã thực hiện mua bán bao nhiêu tấn gạo theo Hợp đồng 39 như thế nào? Đại diện của Công ty S xác định: thời gian giao hàng từ ngày 27/7/2023 đến ngày 31/7/2023, chứ không phải giao trong một ngày 27/7/2023. Nên có căn cứ xác định Công ty S giao 1.000 tấn gạo từ ngày 27 đến ngày 31/7/2023, tại Đoạn 2 của 3.1 Điều III về Thanh toán của Hợp đồng 39 thì trong vòng 02 ngày Công ty S phải thanh toán cho từng sà lan tương ứng khi có Phiếu chứng nhận giám định của cơ quan giám định. Tuy nhiên, ngày 28/7/2023, Công ty S đã thực hiện chuyển 5.000.000.000đ để thanh toán cho số lượng 1.000 tấn, theo đúng thỏa thuận thì từ ngày 31/7/2023 hết ngày 24h giờ ngày 02/8/2023, Công ty S phải thanh toán 70% cho số lượng 1.000 tấn tương ứng với số tiền: 7.658.000.000đ. Mặc dù, chưa có phiếu kiểm định (tới ngày 19/8/2023, Công ty G mới phát hành chứng thư số CT: CF33/01.12.4204-2.A) nhưng hai bên đã thông tin với nhau về chất lượng, tiêu chuẩn, trọng lượng và Công ty S đã thanh toán 5.000.000.000đ vào ngày 28/7/2023, còn nợ: 2.658.000.000đ. Đến ngày 3/8/2023, Công ty S yêu cầu Công ty S giao thêm 998 tấn trong phạm vi 2.000 tấn nhưng Công ty S đã phát hành văn bản số Văn bản 03/ĐN-SGTK 2023 ngày 31/7/2023 với nội dung do Công ty S chậm thanh toán nên Công ty S ngưng giao hàng.
    3. Xét, các điều khoản của hợp đồng 39, không có nội dung nào quy định nếu chậm thanh toán thì bên Công ty S có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng, hoặc đình chỉ một phần hợp đồng, tại Điểm 5.1 Điều V của Hợp đồng 39 có quy định: có thay đổi thì 02 bên gặp nhau bàn bạc để bổ sung bằng văn bản, mọi thay đổi đơn phương không có giá trị thực hiện và nội dung này đã được các bên ký kết nên có giá trị pháp lý. Công ty S không yêu cầu Công ty S gặp nhau, tiếp xúc với nhau để để bàn bạc, trao đổi về chậm thanh toán mà Công ty S đã đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng theo Văn bản 03/ĐN-SGTK 2023 ngày 31/7/2023 và ngày này chưa hết 02 ngày thanh toán theo nội dung của hợp đồng 39, nên Công ty S đã thể hiện sự không thiện chí, đã vi phạm thỏa thuận là phải “gặp nhau” và phải thống nhất bằng văn bản như bên nguyên đơn đã viện dẫn được thể hiện trong Hợp đồng 39 là có căn cứ. Hơn nữa, Công ty S còn vi phạm thời hạn giao hàng là hết ngày 31/7/2023 phải giao đủ 2.000 tấn nhưng mới giao được 1.000 tấn, mặc dù Công ty S có Văn bản ngày 03/8/2023 yêu cầu Công ty S tiếp tục giao 998 tấn gạo nhưng Công ty S không giao tiếp cho đủ số lượng 2.000 tấn. Công ty S tự mình trừ số tiền chưa thanh toán 2.658.000.000₫ vào tiền đặt cọc 6.564.000.000₫ của Công ty S vào ngày 03/8/2023, số tiền dư 624.000.000₫ Công ty S chuyển trả lại cho C nên từ thời điểm này Công ty S đã thể hiện rõ ý chí đình chỉ thực hiện hợp đồng với Công ty S.
    4. Lẽ ra, Công ty S phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình dù thời hạn giao hàng đã được Công Ty Thiên Kim yêu cầu giao tiếp sau ngày 31/7/2023, nhưng Công ty S không chấp nhận đề xuất này nên không có cở để xem xét tình tiết này như lời đề nghị mới cho xác lập thời hạn thực hiện hợp đồng sau ngày 31/7/2023. Hơn nữa, Công ty S không thể viện lý do Công ty S chậm thanh toán để không giao hàng và như vậy Công ty S đã tự đặt mình vào vi phạm thực hiện hợp đồng như lập luận của bên nguyên đơn là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.
    5. Công ty S đã vi phạm hợp đồng 39 tại thời điểm phát hành Văn bản số: 03/ĐN-SGTK 2023 ngày 31/7/2023 vì thời điểm này Công ty S chưa vi phạm thời hạn thanh toán tiền nhưng Công ty S đã thông báo ngưng giao số lượng gạo 1.000 tấn gạo còn lại với lý do giá gạo đang tăng và chậm thanh toán.
    6. Xét, về thời hạn chậm thanh toán tiền hàng có phải là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến Công ty S đình chỉ một phần thực hiện hợp đồng. Công ty S phải thanh toán tiền trong hạn 02 ngày là vào thời điểm hết 24 giờ ngày 02/8/2023. Bước sang ngày 03/8/2023, Công ty S đã vi phạm thời hạn thanh toán. Tuy nhiên, đến 16h57phút ngày 03/8/2023, Công ty S đã tự cấn trừ số tiền 2.658.000.000₫ chưa thanh toán đủ của 1.000 tấn gạo vào số tiền 6.564.000.000₫ mà Công ty S đã đặt cọc 30% giá trị Hợp đồng 39 và Công ty S đã chuyển trả lại số tiền thừa 624.000.000đ cho Công ty S cùng ngày; rõ ràng Công ty S chưa thanh toán nhưng Công ty S đã trừ tiền hàng nên Công ty S trên thực tế không bị thiệt hại. Trường hợp, Công ty S có vi phạm chậm thanh toán thì Công ty S có quyền yêu cầu Công ty S trả lãi chậm trả được quy định tại Điều 306 Luật Thương Mại 2005.
  5. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cho rằng do giá gạo tăng cao, bên nguyên đơn không thanh toán đủ số tiền như thỏa thuận là vi phạm và gây khó khăn về nguồn vốn để Công ty S thu mua gạo, lời trình bày này là không đủ cơ sở để chấp nhận, bởi vì Công ty S khi ký kết hợp đồng 39 thì thời hạn giao hàng trong vòng 07 ngày kể từ ngày 25/7/2023 đến 31/7/2023, Công ty S phải giao đủ 2.000 tấn gạo, +, - 5%, loại 25% tấm, chính bản thân Công ty S phải biết rõ khả năng về tài chính, năng lực thu mua cũng như số lượng gạo hiện có để giao đủ số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn như đã ký kết. Vì nếu không giao đủ là vi phạm hợp đồng và bị phạt 30% giá trị hợp đồng. Ngoài ra, công ty S còn đang giữ và cũng như tự chủ, tự quyết định số tiền đặt cọc 6.564.000.000đ của Công ty S đặt cọc từ ngày 25/7/2023 nên đại diện Viện kiểm sát cũng như bên bị đơn lập luận cho rằng phải thanh toán đủ tiền để thu mua gạo là chưa có cơ sở vững chắc để Hội đồng xét xử chấp nhận.
  6. Do Công ty S không giao đủ số lượng 2.000 tấn gạo như thỏa thuận, chỉ giao được 1.000 tấn là đã vi phạm nghĩa vụ của người bán được các bên thỏa thuận tại 4.2 Điều IV về trách nhiệm của mỗi bên, bên Công ty S đã vi phạm hợp đồng nên Công ty S yêu cầu bồi thường thiệt hại 20% giá trị hợp đồng là có căn cứ. Công ty S không yêu cầu Công ty S phải bồi thường 20% giá trị hợp đồng của số lượng 2.000 tấn gạo, giá 10.940.000đ/tấn với số tiền: 4.376.000.000đ. Nhưng Công ty S chỉ yêu cầu phạt 20% giá trị của số lượng 998 tấn gạo x 10.940.000đ/tấn với số tiền: 2.182.624.000đ là có lợi cho bên Công ty S nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  7. Công ty S không giao hàng đủ số lượng 998 tấn gạo, loại 25% tấm dẫn đến Công ty S bị mất lợi nhuận với số tiền: 816.413.900đ là có cơ sở. Nhưng C đã rút lại yêu cầu này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết về Hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng phần quyết định không xác định về giá trị pháp lý của hợp đồng là thiếu sót. Tuy nhiên, cấp phúc thẩm nêu lên để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

Những nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  1. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty S yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 2.182.624.000đ được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do mất lợi nhuận với số tiền 816.413.900đ bị cấp sơ thẩm không chấp nhận và tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty S rút yêu cầu kháng cáo nên phải chịu án phí 36.492.417₫.
  2. Công ty S phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm 75.652.480đ đối với số tiền 2.182.624.000đ phải thực hiện nghĩa vụ.
  3. Về án phí phúc thẩm: Công ty S kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm, hoàn trả tiền tạm ứng kháng cáo đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự

Khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ phần S.

Sửa Bản án kinh doanh thương mại số: 07/2024/KDTM-ST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn S.

Tuyên bố Hợp đồng số 39/HĐCU-ĐT/23 ngày 14/7/2023 giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn S ký kết với Công ty S có giá trị pháp lý.

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn S phải có nghĩa vụ bồi thường số tiền 2.182.624.000đ cho Công ty cổ phần S.

  1. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

    Công ty Cổ phần S phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: 36.492.417đ trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp: 46.000.000đ theo Biên lai số 0014639 ngày 22/11/2023, Công ty được nhận lại 9.507.583đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

    Công ty S phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: 75.652.480đ, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

  2. Án phí phúc thẩm: Công ty S không phải chịu án phí phúc thẩm, hoàn trả 2.000.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0023867 ngày 25/12/2024 và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013280 ngày 04/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thián, bên phải thián không thi hành đầy đủ khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi, theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dânsự 2015, tương ứng với thời gian và khoản tiền chưa thi hành án.

  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - Đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Chí Keo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/KDTM-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 02/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty Cổ phần S có thông báo yêu cầu Công ty TNHH S giao 998 tấn gạo theo Hợp đồng số 39 nhưng Công ty TNHH S không giao hàng theo thỏa thuận nên Công ty Cổ phần S khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH S thanh toán tổng số tiền bồi thường 3.000.037.900 (ba tỷ, không trăm ba mươi bảy nghìn, chín trăm) đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger