|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/KDTM-PT
Ngày: 25/3/2025
“V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà
Các Thẩm phán: Ông Mai Tấn Hoàng
Ông Phạm Cao Gia
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Công, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19, 24 và 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2025/TLPT-DS, ngày 15 tháng 01 năm 2025, về việc “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc”. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 30/2024/DSST ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXPT-DSST ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành C, sinh năm: 1967; Địa chỉ: B L, Phường B, thành phố T, Phú Yên. Có mặt.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần T. Địa chỉ: A D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Trần Minh P – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Trần Thị Xuân D, sinh năm: 1988 và bà Mai Thị Lan H, sinh năm: 1988 – Nhân viên của Công ty Cổ phần T; Địa chỉ: R - H L, Phường I, thành phố T, Phú Yên. Bà D vắng mặt, bà H có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Tri Đ – Luật sư L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ: A D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
1
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Cao Thị Tuyết M, sinh năm: 1975; Địa chỉ: B L, Phường B, thành phố T, Phú Yên. Có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Thành C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị Tuyết M thống nhất trình bày:
Giữa vợ chồng tôi (Nguyễn Thành C, Cao Thị Tuyết M) và Công ty Cổ phần T có ký 02 văn bản thỏa thuận giữ căn Villa, thuộc Dự án Rosa Alba; địa chỉ: H L, Phường I, thành phố T, Phú Yên, cụ thể:
- Ngày 05/7/2018, hai bên ký văn bản Thỏa thuận giữ căn số 40118/TTĐC-RAR/2018 để chuyển nhượng căn Villa ký hiệu VL04-01, với giá bán là 12.800.000.000 đồng,
- Ngày 18/9/2018, hai bên ký văn bản thỏa thuận giữ căn số 25418/TTGC-RAR/2018 để chuyển nhượng căn Villa, ký hiệu V2.254, với giá là 5.800.000.000 đồng.
Theo đó, hai bên thỏa thuận: Tiến độ thanh toán theo từng đợt. Sau khi nhận đủ tiền đặt cọc theo thỏa thuận, hai bên tiến hành ký kết hợp đồng mua bán trong vòng 30 ngày. Bên Công ty T phải hợp tác trong việc cung cấp các giấy tờ cần thiết theo quy định pháp luật để làm thủ tục ký kết hợp đồng mua bán. Quá trình thực hiện hợp đồng, đến ngày 01/12/2018 chúng tôi đã thanh toán cho Công ty T tổng cộng số tiền là 7.440.000.000 đồng. Hai bên tiến hành thương lượng qua lại, Công ty T hứa hẹn nhiều lần nhưng đến nay Công ty T vẫn không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho từng căn Villa, nên 02 bên đã không thể thực hiện được việc ký kết hợp đồng mua bán đối với 02 căn Villa này. Việc này ảnh hưởng đến quyền lợi của chúng tôi; do đó, chúng tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy 02 hợp đồng thỏa thuận giữ căn này, đồng thời yêu cầu Công ty T phải hoàn trả lại số tiền mà chúng tôi đã thanh toán là 7.440.000.000 đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty Cổ phần T trình bày:
Công ty chúng tôi xác nhận có ký với ông Nguyễn Thành C và bà Cao Thị Tuyết M 02 thỏa thuận giữ căn Villa như phía bà M trình bày. Hiện nguyên đơn đã chuyển thanh toán cho chúng tôi số tiền 7.440.000.000 đồng; còn lại đến nay chưa thanh toán. Do đó, đến nay hai bên vẫn chưa tiến hành ký hợp đồng mua bán được theo thỏa thuận. Hiện 02 căn Villa này chưa được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận nhưng Công ty chúng tôi khi thực hiện dự án này đã được phê duyệt của Cơ quan có thẩm quyền, việc chưa cấp được Giấy chứng nhận là do yếu tố khách quan. Ngoài việc ký kết thỏa thuận 02 căn Villa này, giữa Công ty chúng tôi và phía nguyên đơn còn có ký thỏa thuận đối với những căn hộ khác. Do đó,
2
đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Công ty chúng tôi có chủ trương nếu hoàn trả lại số tiền nguyên đơn đã thanh toán đối với 02 căn Villa này thì chúng tôi sẽ hoàn trả lại toàn bộ số tiền mà phía nguyên đơn đã thanh toán đối với những căn hộ khác. Việc hoàn trả này chúng tôi sẽ thương lượng để giải quyết sau; nên nay chúng tôi không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại văn bản ngày 18/9/2024, bị đơn trình bày: Quá trình thực hiện Thỏa thuận giữ căn số 254/TTGC-RAR/2018 và số 40118/TTGC-RAR/2018 được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn cho thấy nguyên đơn đã không tuân thủ nội dung các điều khoản do các bên ký kết. Bị đơn đã nhiều lần thiện chí gửi thông báo đề nghị phía nguyên đơn thực hiện thanh toán theo đúng nội dung các điều khoản đã ký kết để tiến đến thực hiện việc ký hợp đồng mua bán nhận Villa. Tuy nhiên, phía nguyên đơn đã vi phạm không thực hiện việc này. Do đó, nguyên đơn đã vi phạm thỏa thuận giữ căn về tiến độ và giá trị thanh toán theo quy định tại Điều 3, Điều 4.1 – về việc không thực hiện việc ký hợp đồng mua bán và không đảm bảo tiến độ thanh toán theo nội dung thỏa thuận do các bên ký kết. Chúng tôi đề nghị Tòa căn cứ nội dung các điều khoản do hai bên ký kết và cụ thể tại Điều 5 của Thỏa thuận giữ căn để tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, toàn bộ số tiền 7.440.000.000 đồng đặt giữ căn của nguyên đơn thuộc về bị đơn; đồng thời bị đơn được bán căn Villa cho khách hàng khác bởi những vi phạm như nguyên đơn nói trên.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2024/DSST ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã quyết định:
Áp dụng các Điều 122, 123, 131, 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 168, khoản 2 Điều 172, khoản 2 Điều 174, khoản 1 Điều 194 của Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 55 của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành C.
- Tuyên bố các Thoả thuận giữ căn số 40118/TTGC-RAR/2018, ngày 05/7/2018 và Thoả thuận giữ căn số 25418/TTGC-RAR/2018, ngày 18/9/2018, được ký kết giữa ông Nguyễn Thành C, bà Cao Thị Tuyết M và Công ty cổ phần T vô hiệu.
- Buộc bị đơn Công ty Cổ phần T phải trả cho ông Nguyễn Thành C và bà Cao Thị Tuyết M số tiền đặt cọc đã nhận tổng cộng là 7.440.000.000 đồng (Bảy tỷ, bốn trăm bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự.
3
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 06/12/2024, bị đơn Công ty cổ phần T kháng cáo toàn bộ bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Nguyễn Thành C, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị Tuyết M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị HDXX giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Bị đơn và Luật sư bảo vệ cho bị đơn đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về trả lại tiền cọc, về yêu cầu hủy hợp đồng của bị đơn thì tòa xem xét theo quy định, đề nghị HĐXX xem xét yêu cầu phản tố của bị đơn vì sau khi nhận được Giấy CNQSDĐ, QSH đối với từng căn Villa phía nguyên đơn đặt giữ căn, bị đơn đã gửi thông báo cho nguyên đơn nhưng nguyên đơn không trả lời, bị đơn đã gửi kèm thông báo này với đơn yêu cầu phản tố nhưng sơ thẩm không xem xét, tiền đặt cọc thuộc về bị đơn vì những vi phạm của nguyên đơn và bị đơn được quyền bán căn Villa mà nguyên đơn đã thỏa thuận giữ căn này.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về vụ án: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 của BLTTDS, hủy bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn kháng cáo và nộp tạm ứng án phí trong thời hạn quy định là kháng cáo hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Xét kháng cáo của bị đơn, HĐXX xét thấy: CTCP thời trang T được UBND tỉnh P chấp thuận chủ trương đầu tư tại Quyết định số 2218/QĐ-UBND ngày 09/11/2015, điều chỉnh tại Quyết định số 2011/QĐ-UBND ngày 13/10/2017 để thực hiện dự án Sport L tại phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên, được UBND tỉnh P cho thuê đất thời hạn thuê 50 năm (đến hết ngày 14/11/2067) tại Quyết định số 2239/QĐ-UBND ngày 14/11/2017 và số 2506/QĐ-UBND ngày 22/12/2017, với tổng diện tích thực hiện Dự án trên là: 56.304m², trong đó phần diện tích kinh doanh căn hộ du lịch phục vụ cho lưu trú là 22.222,5m² đã được UBND tỉnh P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 100774, ngày 01/12/2017, chuyển từ hình thức thuê đất trả tiền hàng năm sang thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê, ngày 03/10/2018, Cục thuế tỉnh P có Văn bản số 3941/CT-KK xác nhận CTCP thời trang T đã nộp đủ tiền thuê đất đối với diện tích nêu trên. Tại khoản 1 Điều 3 của Quyết định số 2011/QĐ-UBND ngày
4
13/10/2017 có nội dung “Nhà đầu tư chịu trách nhiệm....., chỉ được hoạt động kinh doanh bất động sản du lịch sau khi xây dựng hoàn thành khối khách sạn”, “về kinh doanh bất động sản du lịch: Đây là một loại hình đầu tư kinh doanh mới, lần đầu được thực hiện ở tỉnh, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực. Trường hợp, nhà đầu tư thấy cần thiết để xác định điều kiện bán, cho thuê, thuê mua, chế độ sở hữu, quản lý, vận hành, khai thác đối với sản phẩm bất động sản là những căn hộ du lịch....phải xây dựng phương án kinh doanh gửi Sở xây dựng để chủ trì, phối hợp với Sở T1 và các đơn vị có liên quan xem xét, có báo cáo đề xuất UBND tỉnh xem xét chấp thuận trước khi Nhà đầu tư thực hiện hoạt động kinh doanh”, theo điểm b khoản 5 Điều 1 của Quyết định này thì được hiểu là chỉ sau tháng 3/2020 nhà đầu tư (CTCP thời trang T) mới được kinh doanh bất động sản du lịch. Thực tế thì đến tháng 8/2019, Công ty T mới lập phương án kinh doanh Bất động sản đối với dự án Sport L, được UBND tỉnh P chấp thuận tại Văn bản số 4639/UBND-ĐTXD ngày 09/9/2019 của UBND tỉnh P về việc “Chấp thuận phương án kinh doanh bất động sản đối với dự án Spot L”.
- [3] Như vậy, tại Quyết định số 2011/QĐ-UBND ngày 13/10/2017 chưa có quy định về việc CTCP thời trang Thiên Quang được phép tách thửa đất đối với từng căn hộ du lịch nhưng giữa ông Nguyễn Thành C, bà Cao Thị Tuyết M và Công ty Cổ phần T có ký kết Thỏa thuận giữ căn số 40118/TTGC-RAR/2018 đối với căn Villa 4, ký hiệu là VL04-01, với giá bán là 12.800.000.000 đồng vào ngày 05/7/2018 và ký Thỏa thuận giữ căn số 25418/TTGC-RAR/2018 đối với căn Villa, ký hiệu là V 2.254, với giá bán là 5.800.000.000 đồng vào ngày 18/9/2018. Tại khoản 4.3 Điều 4 của Hợp đồng có nội dung thỏa thuận Ký kết hợp đồng “Bên B được cấp giấy chứng nhận có thời hạn đến ngày 14/11/2067 (50 năm)” và tại cuộc họp với khách hàng ngày 17/9/2019, CTCP Thời trang T tiếp tục cung cấp thông tin là Công ty đã “được cấp giấy chứng nhận sở hữu các căn biệt thự” là cung cấp thông tin dự án không chính xác cho khách hàng tham gia đầu tư vào Dự án và vi phạm trách nhiệm “Đảm bảo các điều kiện cần thiết theo quy định của pháp luật để ký kết hợp đồng mua bán với bên B” quy định tại khoản 6.1 Điều 6 của Thỏa thuận giữ căn, đây là điều kiện để tiến đến ký kết Hợp đồng mua bán giữa hai bên khi hai bên ký Thoả thuận giữ căn.
5
- [4] Xét thấy trong quá trình thực hiện Dự án, CTCP thời trang T đã thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết để tách thửa cho từng căn Villa, H1, ngày 15/11/2018, Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T1 đã ký các phôi Giấy chứng nhận QSDĐ đối với từng căn Hometel nhưng do loại hình công trình trên có tính chất phúc tạp, pháp luật chưa quy định cụ thể do vậy việc tách thửa cho từng căn Villa riêng lẻ không thể thực hiện được thể hiện tại Công văn số 3576/STNMT-QLĐĐ ngày 16/11/2018 tạm dừng và thu hồi các phôi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đó là lỗi khách quan bất khả kháng mà Công ty không dự liệu trước. Về phía vợ chồng ông Nguyễn Thành C, bà Cao Thị Tuyết M đã thực hiện thanh toán tiền giữ căn theo Thỏa thuận đến đợt 3 “sau khi lợp mái” đạt tỷ lệ 40% giá bán 02 căn Villa (VL04-01, V2.254)với tổng số tiền 7.440.000.000₫ vào ngày 01/12/2018 và sau cuộc họp khách hàng ngày 17/9/2019 cho đến thời điểm ông Nguyễn Thành C khởi kiện ngày 20/3/2024, bổ sung ngày 08/4/2024 yêu cầu hủy Thỏa thuận giữ căn thì phía CTCP Thời trang T cũng không cho ông C, bà Mai M1 thông tin chính xác về thời điểm được Nhà nước cho phép tách thửa cấp Giấy CNQSDĐ, QSH đối với từng căn Villa là điều kiện cần và đủ để hai bên tiếp tục thực hiện tiến độ nộp tiền để tiến hành ký kết Hợp đồng mua bán, ông C cho rằng phía Công ty có nhiều vi phạm trong đó có nói Hợp đồng mua bán căn Villa không cần thủ tục công chứng, chứng thực mà chỉ cần các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận vẫn đảm bảo thủ tục pháp lý (vì đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 100774, ngày 01/12/2017 và GCNQSDĐ, QSHNO và tài sản gắn liền với đất số CQ 689904 ngày 18/6/2020 bổ sung tài sản loại công trình: Hometel (căn hộ du lịch), biệt thự, khách sạn, nhà hàng, nhà hội nghị cho Công ty T) thì ông không đồng ý nên đối với các Thông báo của Công ty yêu cầu ông C, bà M phải tiếp tục thanh toán tiền theo tiến độ thỏa thuận ngày 19/12/2019 đã được bà M phản hồi bằng Thông báo “trả lời yêu cầu nộp tiền và ký hợp đồng mua bán” ngày 24/12/2019, do đó việc ông C, bà M không tiếp tục thanh toán tiền không được xem là vi phạm Điều 5 “Xử lý tiền đặt giữ căn” của Thỏa thuận giữ căn. Xét thấy thời điểm nguyên đơn ông Nguyễn Thành C khởi kiện vào ngày 20/3/2024 thì CTCP thời trang T không đảm bảo được giá trị pháp lý của việc các bên tiến hành ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ nên việc ông C, bà M yêu cầu hủy thỏa thuận giữ căn là có căn cứ.
- [5] Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn CTCP Thời trang T mới cung cấp bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 963020 và số DD963795 cùng cấp ngày 25/6/2024 cho căn biệt thự riêng lẻ (02 phòng ngủ và 04 phòng ngủ) tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 256-B diện tích 218,5m², và thửa đất số 199, tờ bản đồ số 256-B diện tích 410,0m² mục đích sử dụng: đất thương mại, dịch vụ, thời hạn sử dụng đến hết ngày 14/11/2067 (là 02 căn Villa VL04-01, V2.254 mà ông C, bà M đặt giữ căn). Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn cho rằng ngày 25/6/2024 Công ty đã được cấp GCN từng căn, do Công ty chưa nhận được Bản chính GCN nên ngày 22/8/2024 gửi Thông báo cho ông C, bà M về việc ông C, bà M đã vi phạm Điều 3, Điều 4.1 và Công ty sẽ xử lý tiền đặt giữ căn theo Điều 5 không nêu rõ là hiện Công ty đã có GCN đủ điều kiện để ông C, bà M thanh toán theo đúng thỏa thuận để hai bên tiến hành ký kết hợp đồng mua bán nhận căn Vila VL04-01, V2.254 nhưng vẫn căn cứ vào nội dung Thông báo này để đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giải quyết đối với yêu cầu phản tố của Công ty.
6
HĐXX xét thấy: Việc CTCP thời trang T đưa ra yêu cầu tại đơn phản tố đề ngày 18/9/2024 kèm theo Thông báo đề ngày 22/8/2024 gửi ông C, bà M (tài liệu này ông C, bà M nộp tại phiên tòa phúc thẩm): “ông C, bà M vi phạm Điều 3 và Điều 4.1 – về việc không thực hiện việc ký hợp đồng mua bán và không đảm bảo tiến độ thanh toán, căn cứ Điều 5 của Thỏa thuận giữ căn tuyên số tiền 7.4400.000.000₫ thuộc về Công ty và Công ty được quyền bán căn Villa cho khách hàng khác bởi những vi phạm của nguyên đơn nêu trên”, còn ông C khởi kiện yêu cầu hủy Thỏa thuận giữ căn vì “CTCP Thời trang Thiên Quang đến nay Công ty vẫn không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho từng căn Villa nên không đảm bảo được quyền lợi số tiền tôi đã đóng”. Yêu cầu của bị đơn là không cùng với yêu cầu của nguyên đơn mà là yêu cầu phản tố theo khoản 2 Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cấp sơ thẩm không xem xét đây là yêu cầu phản tố của bị đơn mà cho rằng đó là ý kiến phản bác là chưa xem xét đầy đủ yêu cầu của phía bị đơn, vì phía bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm cũng đề nghị xem xét yêu cầu hủy hợp đồng của nguyên đơn theo quy định chứ bị đơn không yêu cầu hủy hợp đồng, nhưng yêu cầu tiền cọc thuộc bị đơn và có yêu cầu được quyền bán căn villa là do nguyên đơn vi phạm điều khoản thanh toán, đồng thời nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng do bị đơn đã vi phạm cam kết ra được GCN từng căn, không yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu nhưng cấp sơ thẩm giải quyết tuyên hợp đồng đặt cọc vô hiệu là không đúng yêu cầu khởi kiện dẫn đến xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu là không đúng. Thỏa thuận giữ căn không thuộc trường hợp vô hiệu do vi phạm điều cấm, thỏa thuận này là có hiệu lực thi hành đối với các bên, thời điểm trước tháng 6/2024 thì điều kiện để thực hiện hợp đồng mua bán căn hộ giữa các bên là không thể thực hiện được vì bị đơn chưa được cấp GCN, thời điểm mà bị đơn được quyền tiến hành thực hiện các thỏa thuận giữ căn được tính lại từ thời điểm nguyên đơn biết bị đơn có GCN (tại phiên tòa sơ thẩm), các đương sự hoàn toàn có quyền thỏa thuận lại về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng hay thỏa thuận hủy hợp đồng đặt cọc và xét yếu tố lỗi của các bên trong quan hệ đặt cọc này chưa được xem xét trong quá trình xét xử sơ thẩm mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.
- [3] Từ những căn cứ trên, HĐXX phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308 của BLTTDS, hủy bản án sơ thẩm như ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
- [4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn không phải chịu án phí DSPT.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2024/DSST ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Giao hồ sơ cho TAND thành phố Tuy Hòa thụ lý giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
7
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và chi phí tố tụng được giải quyết khi TAND thành phố Tuy Hòa giải quyết lại vụ án.
Về án phí phúc thẩm: bị đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm nên được hoàn lại 2.000.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005712 ngày 19/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Vũ Ngọc H2 |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Hà |
8
Bản án số 02/2025/KDTM-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 02/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nđ yêu cầu hủy cọc mua nhà đất
