TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 02/2025/KDTM-PT Ngày 20-3-2025 V/v tranh chấp hợp đồng kinh tế | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Ông Bùi Duy Thạch
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11 và ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 12/2024/TLPT-KDTM ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp về hợp đồng kinh tế
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 01/2025/QĐ-PT ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 02/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 02 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2025/QĐP-KDTM ngày 11 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T3 (viết tắt là Công ty T3); địa chỉ trụ sở: Tầng G Tòa nhà T, số I B, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Đức T; chức vụ: Phó Tổng giám đốc, là người đại diện theo ủy quyền (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền số 01/UQ-202GROUP ngày 18/02/2025); có mặt.
- Bị đơn: Tổng Công ty T3 - CTCP (viết tắt là BDCC); địa chỉ trụ sở: Số B T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng.
1
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Anh T1; chức vụ: Chuyên viên pháp chế phòng Phát triển dự án, là người đại diện theo ủy quyền (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền số 29/UQ-BDCC ngày 20/11/2024); có mặt.
- Người kháng cáo: Tổng Công ty T3 - CTCP, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm đại diện nguyên đơn Công ty Cổ phần T3 trình bày:
Ngày 01/03/2017, Công ty cổ phần T3 (nay là Công ty cổ phần T3) đã ký hợp đồng kinh tế số: 0103/2017/BDCC-BACHDANG5 ngày 01/3/2017 và phụ lục hợp đồng số 01 ngày 26/03/2017 với Tổng Công ty T3 về việc thi công một số hạng mục thuộc “Gói thầu số 12A - Xây lắp XL1 (Phần cầu vượt) - Dự án đầu tư cải tạo, nâng cấp đường C đoạn 2A từ ngã 3 N đến đập Đ”, cụ thể: Thực hiện thi công bổ sung chiều dài, mối nối cọc bê tông cốt thép 35x35cm như thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt tại Quyết định số 569/QĐ-SGTVT ngày 20/3/2017 của Sở G. Căn cứ vào thư xác nhận công nợ ngày 31/12/2022 thì Hợp đồng này Tổng công ty T3 - CTCP còn phải thanh toán cho Công ty Cổ phần T3 số tiền là 899.065.550 đồng (Số tiền này, Chủ đầu tư đã giải ngân tiền tạm ứng về tài khoản của Tổng công ty T3 để thanh toán theo tiến độ hạng mục công trình hoàn thành).
Ngày 03/05/2017, Công ty cổ phần T3 tiếp tục ký hợp đồng kinh tế số: 035/2017/HĐKT với Tổng Công ty T3 về việc cung cấp Bê tông thương phẩm phục vụ dự án “Gói thầu 12A Xây lắp XL1 (phần cầu vượt) - Dự án cải tạo nâng cấp đường 356 đoạn 2A từ ngã ba Nguyễn Bỉnh K đến đập Đ". Cũng theo nội dung thư xác nhận công nợ ngày 31/12/2022 thì Hợp đồng này, Tổng công ty T3 phải trả cho Công ty Cổ phần T3 số tiền là 88.851.559 đồng. (Số tiền này, Chủ đầu tư cũng đã giải ngân tiền tạm ứng về tài khoản của Tổng công ty T3 để thanh toán theo tiến độ hạng mục công trình hoàn thành)
Do chậm thanh toán khoản tiền còn lại từ 02 hợp đồng nêu trên, nên Công ty Cổ phần T3 đã rất nhiều lần gửi công văn tới Tổng Công ty T3 - CTCP để yêu cầu thanh toán nhưng Tổng Công ty T3 không thanh toán. Vì vậy, Công ty Cổ phần T3 đã làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án căn cứ Điều 9, Điều 10 Hợp đồng kinh tế số: 0103/2017/BDCC-BACHDANG5 ngày 01/3/2017 đã ký kết buộc Tổng Công ty T3 phải thanh toán cho Công ty Cổ phần T3 một phần số tiền còn nợ là 439.820.650 đồng (tiền thi công đóng cọc BTCT 35x35cm) và số tiền 88.851.559 đồng (Bê tông trộn) trong “Gói thầu 12A Xây lắp XL1 (phần cầu vượt) - Dự án cải tạo nâng cấp đường 356 đoạn 2A từ ngã ba Nguyễn Bỉnh K đến đập Đ”.
2
Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 30/7/2024 Công ty Cổ phần T3 đã thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tổng Công ty T3 phải trả toàn bộ số tiền còn nợ đối với 02 hợp đồng nêu trên là 987.917.109 đồng (Bao gồm: Số tiền thi công đóng cọc BTCT 35x35cm là 899.065.550 đồng và số tiền mua bê tông trộn thương phẩm là 88.851.559 đồng) và khoản tiền lãi chậm trả tính từ ngày hai bên ký quyết toán sau thanh tra chính phủ ngày 16/9/2019 đến ngày 30/7/2024 là 432.139.303 đồng (được tính trung bình lãi suất của 03 Ngân hàng theo quy định pháp luật là 9%/năm x 150% lãi suất quá hạn). Như vậy, tổng cộng (gốc + lãi chậm trả) là 1.420.056.412 đồng.
* Tại bản tự khai, trong quá trình Toà án sơ thẩm giải quyết bị đơn trình bày:
Ngày 10/7/2015, liên danh Tổng Công ty T3 và Công ty cổ phần T3 - CIENCO1 ký Hợp đồng số 18/2015/HĐXD với Chủ đầu tư là Ban Q (nay là Ban Q xây dựng các công trình giao thông Hải Phòng) về việc thi công “Gói thầu 12A Xây lắp XL1 (phần cầu vượt) - Dự án cải tạo nâng cấp đường 356 đoạn 2A từ ngã ba Nguyễn Bỉnh K đến đập Đ”. Sau đó, Tổng Công ty T3 – T3 là đại diện liên danh đã ký hợp đồng với Công ty T3 (nay là Công ty cổ phần T3) thi công hạng mục: Cung cấp và thi công cọc BTCT 350x350mm thuộc một hạng mục của gói thầu thông qua Hợp đồng kinh tế số 0103/2017/BDCC-BACHDANG5 ngày 01/3/2017 và các Phụ lục hợp đồng đã ký.
Theo điều kiện của các hợp đồng nêu trên, Công ty cổ phần T3 chỉ được thanh toán giá trị quyết toán hợp đồng khi Tổng công ty T3 - CTCP hoàn thành quyết toán với chủ đầu tư. Đồng nghĩa với việc dự án phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư công trình.
Sau nhiều lần Tổng công ty T3 làm việc với Chủ đầu tư là Ban Q (nay là Ban Q xây dựng các công trình giao thông Hải Phòng) thì Tổng công ty T3 - CTCP mới được Chủ đầu tư chấp thuận thanh toán cho một phần tiền trong tổng số tiền 5% giữ lại chờ phê duyệt quyết toán của “Gói thầu 12A Xây lắp XL1 (phần cầu vượt) - Dự án cải tạo nâng cấp đường 356 đoạn 2A từ ngã ba Nguyễn Bỉnh K đến đập Đ” vào tháng 7/2023. Tuy nhiên, giá trị Chủ đầu tư thanh toán là để tạo điều kiện cho Tổng công ty T3 có nguồn vốn để sửa chữa các tồn tại hiện trường thay cho các đơn vị thầu phụ phục vụ công tác bảo hành công trình với Chủ đầu tư (do các đơn vị thầu phụ không thực hiện sửa chữa) và dựa trên cơ sở giá trị giữ lại một khoản tiền của 02 gói thầu 12A và 13A - Cầu vượt Nguyễn Bỉnh K để vẫn đủ an toàn trong trường hợp giá trị quyết toán bị giảm trừ sau khi Sở tài chính thành phố G thẩm tra phê duyệt quyết toán hoàn thành, nên Tổng công ty T3 - CTCP không có trách nhiệm thanh toán khoản tiền hỗ trợ này cho Công ty cổ phần T3.
3
Do đó, Bị đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tổng Công ty T3 - T3 sẽ thanh toán 100% khoản tiền còn lại của gói thầu đã thi công cho Công ty cổ phần T3 sau khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Hồ sơ pháp lý dự án giữa Tổng Công ty T3 với Chủ đầu tư và giữa Tổng Công ty T3 - CTCP với Thầu phụ được hoàn thiện đầy đủ.
- Chủ đầu tư thanh toán hết giá trị quyết toán công trình cho Tổng Công ty T3 - CTCP.
- Công ty Cổ phần T3 phát hành bảo lãnh chờ quyết toán.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Công ty cổ phần T3 giữ nguyên quan điểm đề nghị Tổng Công ty T3 - CTCP thanh toán khoản tiền còn nợ tại 02 hợp đồng nêu trên và thay đổi yêu cầu Tổng Công ty T3 - T3 có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 01/01/2024 đến thời điểm xét xử ngày 24/10/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là (899.065.550 đồng x 13,5%/365 x 296 ngày) + (88.851.559 đồng x 13,5%/365 x 296 ngày) = 108.156.624 đồng. Tổng Công ty T3 - CTCP giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án xét xử theo quy định pháp luật.
Với nội dung như trên, tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2024/KDTM-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Buộc Tổng Công ty T3 phải trả cho Công ty cổ phần T3 số tiền còn nợ chưa thanh toán của Hợp đồng số 0103/2017/BDCC-BACHDANG5 ngày 01/3/2017 là 899.065.550 đồng (T2 trăm chín mươi chín triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm năm mươi đồng) và số tiền còn nợ chưa thanh toán của Hợp đồng kinh tế số 035/2017/HĐKT ngày 03/5/2017 là 88.851.559 đồng (T2 mươi tám triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn năm trăm năm mươi chín đồng). Tổng số tiền phải trả là 987.917.109 đồng (Chín trăm tám mươi bẩy triệu chín trăm mười bẩy nghìn một trăm lẻ chín đồng).
- Buộc Tổng Công ty T3 phải trả cho Công ty cổ phần T3 khoản tiền lãi chậm trả của Hợp đồng số 0103/2017/BDCC-BACHDANG5 ngày 01/3/2017 là 98.429.204 đồng (Chín mươi tám triệu bốn trăm hai mươi chín nghìn hai trăm lẻ bốn đồng) và khoản tiền lãi chậm trả của Hợp đồng kinh tế số 035/2017/HĐKT ngày 03/5/2017 là 9.727.420 đồng (Chín triệu bẩy trăm hai mươi bẩy nghìn bốn trăm hai mươi đồng). Tổng số tiền lãi chậm trả của 02 hợp đồng là 108.156.624 đồng (Một trăm linh tám triệu một trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm hai mươi bốn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất, án phí và quyền kháng cáo đối với các đương sự.
4
* Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn Tổng công ty T3 - CTCP kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2024/KDTM-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, đề nghị Tòa án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì các căn cứ sau:
- Đối với Hợp đồng số 0103 ngày 01/3/2017: Bản án sơ thẩm buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi của hợp đồng 0103 là không có căn cứ, trái với các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng giữa hai bên, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của BDCC.
- Chủ đầu tư chưa thanh toán cho Tổng công ty T3- CTCP toàn bộ số tiền của gói thầu 12A mà hiện mới thanh toán được số tiền 140.224.972.000 đồng so với tổng số tiền phải thanh toán là 142.428.905.000 đồng (có văn bản xác nhận của chủ đầu tư). Chủ đầu tư còn nợ bị đơn số tiền 2.203.933.000 đồng.
Trong khi B đã thanh toán cho Công ty T3 số tiền 17.082.245.450 đồng tương ứng 95% giá trị khối lượng hoàn thành. Giá trị bảo hành 5% hợp đồng nên BDCC chỉ phải thanh toán cho Công ty T3 số tiền 539.439.330 đồng. Hợp đồng 0103 ngày 01/3/2017 ký giữa hai bên (BDCC và Công ty T3) đã thỏa thuận ràng buộc các điều khoản phù hợp với hợp đồng chính (ký giữa Chủ đầu tư và BDCC) nên bản án sơ thẩm buộc BDCC phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và nợ lãi (100% giá trị hợp đồng) là không có căn cứ.
- Sở G chưa phê duyệt gói thầu 12A để quyết toán vốn nên BDCC chưa có cơ sở để thanh toán toàn bộ hợp đồng cho Công ty T3 vì giá trị quyết toán có thể bị thay đổi sau khi phê duyệt, ảnh hưởng đến quyền lợi của BDCC.
- Nghĩa vụ bảo hành công trình theo hợp đồng 0103 chưa kết thúc:
Căn cứ vào khoản 8.2 Điều 8 Hợp đồng 0103: "...Bên B chỉ hết nghĩa vụ bảo hành khi Bên A hết nghĩa vụ bảo hành với Chủ đầu tư...". Nghĩa là, Công ty T3 chỉ hết nghĩa vụ bảo hành công trình khi BDCC hết nghĩa vụ bảo hành công trình với Chủ đầu tư (Ban Q).
Bên cạnh đó, "Hợp đồng chính" gói thầu 12A - Hợp đồng số 18/2015/HĐXD ngày 10/7/2015 giữa Chủ đầu tư và BDCC, khoản 18.2 Điều 18 quy định: "...Nhà thầu chỉ được hoàn trả tiền bảo hành công trình sau khi kết thúc thời hạn bảo hành và được đại diện Chủ đầu tư xác nhân đã hoàn thành việc bảo hành... ".
Như vậy, nghĩa vụ bảo hành của BDCC sẽ kết thúc khi nhận được xác nhận từ phía Chủ đầu tư. Hiện nay, chủ đầu tư chưa xác nhận việc hoàn thành nghĩa vụ bao hành, vì thế không thể khẳng định nghĩa vụ bảo hành công trình của nhà thầu (BDCC) với Chủ đầu tư là đã kết thúc; đồng nghĩa với việc Công ty T3 cũng chưa
5
hoàn thành nghĩa vụ bảo hành công trình theo các thỏa thuận đã được ghi nhận trong Hợp đồng 0103.
- Bản án của TAND quận Lê Chân không xem xét toàn diện các chứng cứ, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Biên bản xác nhận công nợ ngày 31/12/2023 của Công ty T3 là không hợp pháp vì người ký xác nhận tại văn bản là kế toán trưởng - sai về thẩm quyền, vượt quá phạm vi thẩm quyền được phép. Về nguyên tắc, Biên bản xác nhận công nợ phải do đại diện hợp pháp của các bên ký kết nên Biên bản đối chiếu công nợ không đủ điều kiện để được coi là chứng cứ trong vụ án này. Ngoài ra, Công ty T3 chưa ký phụ lục thay đổi tên pháp nhân, thay đổi người đại diện theo pháp luật. Công ty T3 chưa thực hiện ký kết phụ lục hợp đồng với BDCC tại Gói thầu 12A về việc thay đổi tên doanh nghiệp, người đại diện pháp luật và BDCC cũng không nhận được văn bản thông báo sự thay đổi các thông tin của Công ty T3. Trên hồ sơ giấy tờ sổ sách kế toán vẫn thể hiện tên bị đơn là Công ty cổ phần T3.
- Tòa án sơ thẩm không thụ lý đơn phản tố của BDCC: Mặc dù đơn phản tố của bị đơn được nộp sau phiên họp công khai chứng nên Tòa án không chấp nhận đơn phản tố phù hợp quy định pháp luật nhưng đơn phản tố này vẫn cần được xem xét như một ý kiến của bị đơn để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của BDCC.
Việc Tòa án không ghi nhận các ý kiến trong đơn phản tố đã dẫn đến việc giải quyết tách biệt 02 hợp đồng thi công giữa BDCC và Công ty T3 (bao gồm Hợp đồng 0105 va Hợp đông 6615/BDCC-BD5 ngày 06/6/2015 về thi công Gói thầu A2 - Dự án thoát nước Hải Phòng) làm mất thời gian của Tòa án, các bên liên quan, và có dấu hiệu Công ty T3 cố tình tách biệt các hợp đồng có liên quan nhằm né tránh trách nhiệm phát hành bảo lãnh chờ phê duyệt quyết toán theo Hợp đồng 6615/BDCC-BD5, với giá trị lên tới 4.236.592.722 đồng. Do đó, BDCC giữ lại một phần tiền, cụ thể là 539.439.330 đồng (tại gói thầu 12A) và 1.264.932.145 đồng (tại gói thầu A2) để đảm bảo cho nghĩa vụ của Công ty T3, bao gồm bảo hành công trình và phát hành bảo lãnh chờ phê duyệt quyết toán theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Việc Tòa án sơ thẩm nhận định và đánh giá sai sự thật dẫn đến tuyên án như bản án sơ thẩm gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Vì vậy, bị đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại và hủy bản án sơ thẩm.
Hiện nay, giữa Công ty T3 và BDCC không phát sinh thêm hợp đồng nào khác khiến B1 gặp rất nhiều khó khăn trong việc yêu cầu Công ty T3 thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo các hợp đồng đã ký kết. Bản án sơ thẩm xét xử với những vi phạm pháp luật như trên đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của BDCC. Vì vậy, đề nghị TAND thành phố Hải Phòng xem xét bổ sung
6
tranh chấp tại Hợp đồng số 6615/BDCC-BD5 - Gói thầu A2 - Dự án thoát nước Hải Phòng vào cùng một vụ án để đảm bảo sự công tâm, quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn cũng như để việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn BDCC giữ nguyên nội dung kháng cáo và chỉ kháng cáo đối với hợp đồng số 0103 ngày 01/3/2017 giữa hai bên. Do chủ đầu tư chưa cấp chứng chỉ bảo hành công trình nên BDCC vẫn được quyền giữ lại tiền bảo hành công trình của Công ty T3 nên nếu phải thanh toán thì bị đơn được quyền giữ lại một phần tiền bảo hành công trình là 539.439.330 đồng của hợp đồng 0103. Đối với hợp đồng số 035/2027/HĐKT ngày 03/5/2017 về việc cung cấp bê tông thương phẩm cho gói thầu 12A bị đơn không có ý kiến gì, đồng ý với bản án sơ thẩm.
* Nguyên đơn Công ty T3 trình bày quan điểm đối với kháng cáo của bị đơn:
- Chủ đầu tư của gói thầu 1A là Ban quản lý đầu tư xây dựng các công trình giao thông Hải Phòng đã xác nhận hồ sơ quyết toán A-B của gói thầu đã được ký với số tiền đề nghị quyết toán là 142.428.905.000 đồng và số tiền đã giải ngân trực tiếp cho BDCC hiện tại là 140.224.972.000 đồng (đã thanh toán 98,45% giá trị quyết toán)
Công ty Cổ phần T3 là nhà thầu phụ thi công hạng mục cọc bê tông cốt thép ở 2 đầu cầu vượt Nguyễn Bỉnh K và cung cấp bê tông thương phẩm chỉ là 1 tiến trình, 1 giai đoạn, 1 phần công việc (hạng mục) trong gói thầu 12A và đã hoàn thành khối lượng công việc theo hợp đồng. Toàn bộ công việc theo hợp đồng đã được 2 bên nghiệm thu theo Biên bản nghiệm thu số 1/12A-XL/BD5/NTCTXL ngày 26/4/2017 xác nhận đạt yêu cầu về kỹ thuật và chất lượng. Hợp đồng được quyết toán sau Thanh tra Chính Phủ ngày 16/9/2019. Theo giá trị quyết toán Công ty Cổ phần T3 đã phải xuất hóa đơn giảm khối lượng hoàn thành cho BDCC số tiền là 61.861.000 đồng và chủ đầu tư đã đưa công trình vào khai thác sử dụng từ năm 2017; đến nay đã hết thời gian bảo hành (12 tháng). Vì vậy BDCC phải thanh toán 100% giá trị quyết toán của gói thầu cho Công ty Cổ phần T3 như yêu cầu khởi kiện là có căn cứ.
- Về bản đối chiếu công nợ: Việc đối chiếu công nợ giữa BDCC và Công ty T3 được ký hàng năm (từ 2019 đến năm 2023) để xác nhận khoản công nợ giữa các bên, phục vụ cho công việc kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm của BDCC và Công ty T3. Biên bản xác nhận công nợ có đóng dấu của doanh nghiệp là cơ sở pháp lý cao nhất, còn phân công cho ai ký là trong nội bộ của BDCC.
- Về việc tính lãi chậm trả : Do BDCC cố tình không thanh toán cho Công ty T3 nên việc Công ty Cổ phần T3 yêu cầu BDCC thanh toán tiền chậm trả là hoàn toàn phù hợp với pháp luật. Hợp đồng được quyết toán sau Thanh tra Chính Phủ từ
7
ngày 16/9/2019; Công ty T3 cũng đã xuất hóa đơn VAT cho BDCC và các bên đã hạch toán thuế, đưa vào báo cáo kiểm toán hàng năm nhưng quá trình giải quyết tại Tòa án sơ thẩm nguyên đơn đồng ý phương án tính lãi từ ngày 01/01/2024 vì thời điểm chốt công nợ cuối cùng giữa hai bên là ngày 31/12/2023 theo biên bản đối chiếu công nợ để có lợi cho phía bị đơn.
Với những căn cứ trên nguyên đơn đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên quan điểm đã trình bày, không đồng ý với quan điểm của BDCC và cho rằng công trình đã hoàn thành từ lâu, có biên bản nghiệm thu giữa các bên và đưa vào sử dụng từ năm 2017; thanh tra chính phủ đã kiểm tra quyết toán công trình, các bên đã ký nghiệm thu theo quyết toán, chủ đầu tư cũng đã ký quyết toán... nhưng đến nay BDCC vẫn chưa thanh toán tiền còn lại của hợp đồng 0103 cho Công ty T3, ngay cả hợp đồng 035 về việc cung cấp bê tông thương phẩm phía bị đơn cũng chưa thanh toán hết tiền cho nguyên đơn, Như vậy, bản thân BDCC không muốn thanh toán tiền còn nợ theo các hợp đồng và có dấu hiệu chiếm dụng vốn của Công ty T3. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm để đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Bị làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm 05/2024/KDTM-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn thay đổi nội dung kháng cáo: kháng cáo đối với phần bản án liên quan đến hợp đồng 0103 ngày 01/3/2017.
Hợp đồng kinh tế số 0103 ngày 01/3/2017; phụ lục hợp đồng số 01 ngày 26/03/2017 và Hợp đồng kinh tế số: 035/2017/HĐKT ngày 03/5/2017 giữa Công ty Cổ phần T3 và Tổng Công ty T3 - CTCP đều với mục đích để kinh doanh. Hình thức và nội dung của các Hợp đồng được ký kết phù hợp với các điều 398, 401, 403 Bộ luật Dân sự; trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội làm phát sinh quyền và nghĩa vụ và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thoả thuận đã cam kết trong những hợp đồng này được quy định tại các điều 138, 139 và 141 Luật Xây dựng.
8
Quá trình thực hiện Hợp đồng số 0103, phụ lục số 01 và Hợp đồng số 035, Công ty T3 đã thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng tiến hành chuyển giao khối lượng bê tông trộn sẵn, thi công xây dựng, bàn giao công trình cho Tổng Công ty T3 - CTCP theo đúng thời hạn trong hợp đồng, đạt yêu cầu kỹ thuật và chất lượng theo biên bản nghiệm thu số 1/12A-XL/BD5/NTCTXL ngày 26/4/2017. Ngày 06/7/2017, hai bên đã xác nhận giá trị sản lượng theo biểu giá của hợp đồng khối lượng quyết toán là 18.043.172.000 đồng. Đến ngày 16/9/2019, Công ty T3 hoàn thành hồ sơ quyết toán sau thanh tra Chính Phủ được các bên ký duyệt giá trị quyết toán là 17.981.311.000 đồng (giảm trừ so với giá trị theo hợp đồng là 61.866.000 đồng). Ngày 25/8/2019, Công ty T3 đã xuất hóa đơn thanh toán khoản tiền giảm trừ này cho BDCC theo đúng quy định. Tuy nhiên, BDCC không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng kỳ hạn như đã cam kết trong các hợp đồng hai bên đã ký kết. Công ty T3 đã nhiều lần đôn đốc BDC trả nợ. Ngày 31/12/2023, hai bên đã ký Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ. Theo đó xác nhận Tổng công ty T3 còn phải thanh toán số tiền 899.065.550 đồng của Hợp đồng số 0103 và số tiền 88.851.559 đồng của Hợp đồng kinh tế số 035
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn đã thừa nhận các khoản nợ này tại thời điểm 31/12/2023 nhưng không chấp nhận thanh toán các số tiền nêu trên. Theo BDCC thì hạng mục thi công ép cọc bê tông 02 mố cầu đang còn trong thời gian bảo hành, một số hạng mục của phần cầu qua kiểm tra BDCC đã thông báo đến các nhà thầu phụ (trong đó có Công ty T3) phải có trách nhiệm sửa chữa khắc phục các hư hỏng nên cần giữ lại khoản tiền của 02 hợp đồng nêu trên thuộc khoản tiền bảo hành 5% của Chủ đầu tư chưa thanh toán cho nhà thầu. Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm, BDCC không xác định được nguyên nhân các hạng mục hư hỏng phải sửa chữa, không chỉ ra được thời hạn tính bảo hành đối với hạng mục mố cầu Bê tông cốt thép Công ty cổ phần T3 đã thi công.
Mặt khác, BDCC cũng xác nhận Chủ đầu tư đã thanh toán tổng giá trị gói thầu trên 98% phù hợp với xác minh tại Ban Q xây dựng các công trình giao thông Hải Phòng. Chủ đầu tư đã giải ngân khoản tiền thi công “Gói thầu 12A Xây lắp XL1 (phần cầu vượt) - Dự án cải tạo nâng cấp đường 356 đoạn 2A từ ngã ba Nguyễn Bỉnh K đến đập Đ” tính đến ngày 04/7/2023 là 140.224.972.000 đồng. Hiện Chủ đầu tư còn giữ lại trong tài khoản tiền gửi của Ban quản lý dự án tại Kho bạc Nhà nước H số tiền 2.203.933.000 đồng. Số tiền này sẽ được thanh toán sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành giữa Nhà thầu (BDCC và CIENCO1) với Chủ đầu tư.
Như vậy, Công ty T3 chỉ là nhà thầu phụ thi công một phần, một tiến trình, một giai đoạn trong “Gói thầu 12A” đã hoàn thành khối lượng công việc theo hợp đồng, đã được nghiệm thu, đã được quyết toán và Chủ đầu tư cũng đã đưa toàn bộ dự án vào khai thác sử dụng. Vì vậy, việc BDCC cho rằng chỉ thanh toán 100% gói
9
thầu cho Công ty cổ phần T3 sau khi đáp ứng đủ các điều kiện gồm: Hồ sơ pháp lý dự án giữa Tổng Công ty T3 với Chủ đầu tư và giữa Tổng Công ty T3 - CTCP với Thầu phụ được hoàn thiện đầy đủ. Chủ đầu tư thanh toán hết giá trị quyết toán công trình cho Tổng Công ty T3; Công ty Cổ phần T3 phát hành bảo lãnh chờ quyết toán” là không có căn cứ để chấp nhận.
Tổng Công ty T3 đã thực hiện không đúng với các quy định tại Điều 1 khoản 1.1; Điều 10, khoản 10.2.2. Thanh toán của Hợp đồng số 0103/2017/BDCC- BACHDANG5 ngày 01/3/2017 và Điều 8 khoản 8.3. Thanh toán; Điều 8 khoản 8.5. Thanh toán tiền bị giữ lại của Hợp đồng số 18/2015/HĐXD ngày 10/7/2015. Đồng thời, cũng không thực hiện đúng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 112; điểm c khoản 1 Điều 113; Điều 125, Điều 144 và Điều 147 Luật xây dựng và Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn về việc buộc Tổng Công ty T3 phải trả cho Công ty cổ phần T3 với tổng số tiền chưa thanh toán của Hợp đồng số 0103/2017/BDCC-BACHDANG5 ngày 01/3/2017; Hợp đồng kinh tế số 035/2017/HĐKT ngày 03/5/2017 là 899.065.550 đồng + 88.851.559 đồng = 987.917.109 đồng là có căn cứ.
Về khoản tiền lãi chậm thanh toán: Tính từ ngày 01/01/2024 đến thời điểm xét xử ngày 24/10/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là (899.065.550 đồng x 13,5%/365 x 296 ngày) + (88.851.559 đồng x 13,5%/365 x 296 ngày) = 108.156.624 đồng. Việc yêu cầu tính lãi chậm trả của Nguyên đơn là phù hợp với các quy định của pháp luật, phù hợp với mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường, nên Tòa án sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Lê Chân; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Kháng cáo không được chấp nhận nên BDCC phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng giữa nguyên đơn là Công ty T3 (nay là Công ty cổ phần T3) với Tổng Công ty T3 - BDCP là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.
10
[2] Về thủ tục kháng cáo: Tổng công ty T3- CTCP là bị đơn kháng cáo Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2024/KDTM-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Đơn kháng cáo của bị đơn đúng thủ tục, trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đơn kháng cáo của BDCC là hợp pháp, được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Về thời hiệu khởi kiện của vụ án: Thời điểm cuối cùng xác nhận công nợ giữa Công ty T3 và BDCC là ngày 31/12/2023. Nguyên đơn đơn khởi kiện tranh chấp thương mại giữa hai bên ngày 22/01/2024 trong thời hạn luật định nên còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 319 của Luật Thương mại.
- Xét kháng cáo của bị đơn BDCC yêu cầu hủy bản án sơ thẩm vì các lý do:
[4] Bị đơn cho rằng chủ đầu tư mới thanh toán cho BDCC số tiền tương ứng 98,45% giá trị gói thầu 12A. Chủ đầu tư còn nợ bị đơn số tiền 2.203.933.000 đồng. Trong khi BDCC đã thanh toán cho Công ty T3 tương ứng 95% giá trị khối lượng công việc hoàn thành nên theo tỉ lệ chủ đầu tư đã thanh toán thì BDCC chỉ phải thanh toán cho Công ty T3 số tiền 539.439.330 đồng (3%). Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng 0103 ký kết giữa BDCC và Công ty T3 mặc dù thỏa thuận ràng buộc các điều khoản phù hợp với hợp đồng chính nhưng hợp đồng chính giữa BDCC và chủ đầu tư để thi công toàn bộ gói thầu 12A trong đó có nhiều hạng mục. Giá trị và thời điểm hoàn thành từng hạng mục là khác nhau. Hạng mục công trình mố cọc bê tông cốt thép 350x350mm ở hai đầu cầu vượt N của Công ty T3 đã hoàn thành, được nghiệm thu và hai bên thống nhất giá trị quyết toán; Chủ đầu tư cũng đã đưa vào khai thác sử dụng từ cuối năm 2017. Số tiền 2.203.933.000 đồng chủ đầu tư giữ lại để chờ quyết toán nhưng trong đó BDCC không tách biệt được tiền của Công ty T3 là bao nhiêu và chủ đầu tư cũng không xác định được vì Công ty 202 chỉ là nhà thầu phụ của BDCC mà không có quan hệ hợp đồng trực tiếp với chủ đầu tư. Do đó, Công ty T3 đã hoàn thành công việc của mình thì BDCC có trách nhiệm thanh toán giá trị theo hợp đồng giữa hai bên.
[5] Bị đơn chưa đồng ý thanh toán số tiền còn lại theo hợp đồng 0103 cho nguyên đơn vì hiện tại Sở Tài chính chưa phê duyệt gói thầu 12A để quyết toán vốn nên nếu sau khi phê duyệt mà giá trị quyết toán bị thay đổi có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của BDCC. Xét thấy, Sở G phê duyệt hồ sơ quyết toán là khâu cuối cùng về mặt thủ tục để thanh toán vốn đối với các công trình xây dựng cấp thành phố. Tuy nhiên, gói thầu 12A bao gồm nhiều hạng mục thi công. Nhà thầu chính là BDCC ký hợp đồng với nhiều nhà thầu phụ trong đó có Công ty T3 để thi công từng hạng mục nên giá trị và tiến độ thực hiện từng hạng mục là khác nhau. Công ty T3 đã xuất hóa đơn đối với giá trị toàn bộ hạng mục mà mình thi công cho BDCC, đã giảm trừ giá trị quyết toán sau khi Thanh tra chính phủ tiến hành kiểm toán đối với hồ sơ quyết toán của hợp đồng 0103. Bị đơn BDCC đồng ý giá trị
11
quyết toán công trình của nguyên đơn và đã hạch toán hóa đơn do Công ty T3 xuất vào báo thuế hàng năm của đơn vị. Sở G có Công văn số 2838/STC-TCĐT ngày 03/7/2024 gửi Tòa án sơ thẩm đã xác nhận: “Dự án đã hoàn thành thi công, được nghiệm thu hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng ngày 02/02/2018.... Sở G đã có công văn 31/STC-TCĐT ngày 06/01/2022 gửi Ban QLDA ĐTXD các công trình giao thông (chủ đầu tư) để hướng dẫn, đôn đốc thực hiện quyết toán các chi phí của dự án...Chủ đầu tư chưa gửi hồ sơ quyết toán các chi phí đã thực hiện đến Sở Tài chính nên Sở Tài chính chưa đủ cơ sở để thực hiện thẩm tra, phê duyệt quyết toán theo quy định...
Nghị định 99/2021/NĐ-CP ngày 1/11/2021 của Chính phủ không có quy định về quyết toán gói thầu độc lập hoàn thành nên Sở G không đủ cơ sở thẩm tra, phê duyệt quyết toán đối với gói thầu riêng lẻ - gói thầu 12A...”
[5.1] Như vậy, việc Sở G chưa phê duyệt quyết toán do lỗi của chủ đầu tư và là thủ tục trong thực hiện quyết toán công trình giữa BDCC với chủ đầu tư. Theo quy định thì Sở Tài chính không được phê duyệt quyết toán đối với gói thầu riêng lẻ. Vì vậy, BDCC không thể căn cứ vào lý do này để không thanh toán toàn bộ giá trị hợp đồng cho Công ty T3.
[6] Bị đơn cho rằng nghĩa vụ bảo hành công trình theo hợp đồng 0103 chưa kết thúc: Căn cứ vào khoản 8.2 Điều 8 Hợp đồng 0103: "...Bên B chỉ hết nghĩa vụ bảo hành khi Bên A hết nghĩa vụ bảo hành với Chủ đầu tư...". Hơn nữa, hợp đồng số 18/2015/HĐXD ngày 10/7/2015 giữa Chủ đầu tư và BDCC (Hợp đồng chính) đối với gói thầu 12A; tại khoản 18.2 Điều 18 quy định: "...Nhà thầu chỉ được hoàn trả tiền bảo hành công trình sau khi kết thúc thời hạn bảo hành và được đại diện Chủ đầu tư xác nhân đã hoàn thành việc bảo hành... ". Hiện tại, chủ đầu tư chưa xác nhận hoàn thành nghĩa vụ bảo hành cho BDCC, vì thế Công ty T3 cũng chưa hoàn thành nghĩa vụ bảo hành công trình theo các thỏa thuận đã được ghi nhận trong Hợp đồng 0103. Mức tiền bảo hành công trình là 5% giá trị hợp đồng (theo hợp đồng chính giữa BDCC và chủ đầu tư; hợp đồng 0103 ký giữa hai bên thỏa thuận ràng buộc các điều khoản phù hợp với hợp đồng chính).
[6.1] Xét thấy, tại khoản 8.2 Điều 8 Hợp đồng 0103 và tại khoản 18.2 Điều 18 Hợp đồng 18/2015/HĐXD đều quy định thời hạn bảo hành là 12 tháng. Hạng mục thi công của Công ty T3 được đưa vào sử dụng từ cuối năm 2017 (toàn bộ dự án gói thầu 12A được đưa vào khai thác, sử dụng từ tháng 02/2018) đến nay không có hư hỏng, sửa chữa gì. Hợp đồng 18/2015/HĐXD ngày 10/7/2015 (Hợp đồng chính) quy định về trách nhiệm của chủ đầu tư: “Xác nhận hoàn thành bảo hành công trình cho nhà thầu” nhưng lại không quy định thời gian phải xác nhận hoàn thành bảo hành nên phải được hiểu là xác nhận hoàn thành bảo hành sau khi hết thời gian bảo hành. Đến thời điểm khởi kiện, công trình đã đưa vào sử dụng hơn 06 năm nhưng chưa phát hành xác nhận bảo hành là lỗi của chủ đầu tư.
12
[6.2] Theo Công văn số 1034/BQL-TCKT ngày 18/9/2024 và Công văn số 917/BQL-TCKT ngày 23/8/2024 của Ban Q xây dựng các công trình giao thông Hải Phòng (chủ đầu tư) thì khoản tiền 2.203.933.000 đồng chưa giải ngân cho BDCC, còn giữ lại trong tài khoản tiền gửi của chủ đầu tư không bao gồm khoản tiền tạm giữ bảo hành công trình. Do đó, quan điểm của BDCC về việc không thanh toán toàn bộ giá trị hợp đồng 0103 cho nguyên đơn Công ty T3 là không có căn cứ.
[6.3] Mặc dù, Hợp đồng 0103 ngày 01/3/2017 ký giữa BDCC và Công ty T3 đã thỏa thuận ràng buộc các điều khoản phù hợp với hợp đồng chính (ký giữa Chủ đầu tư và BDCC) nhưng thời điểm ký hợp đồng Công ty T3 là “công ty con” của BDCC; hợp đồng ký giữa hai bên là do BDCC “mang việc” cho Công ty T3 nên thỏa thuận hợp đồng giữa BDCC và Công ty T3 vẫn có sự không bình đẳng. Theo quy định tại khoản 6 Điều 404 Bộ luật Dân sự “trong trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia”. Do vậy, BDCC không thể chỉ căn cứ vào điều khoản ràng buộc của hợp đồng ký giữa hai bên với “hợp đồng chính” mà không chấp nhận thanh toán toàn bộ giá trị theo hợp đồng 0103 cho Công ty T3.
[7] Biên bản xác nhận công nợ ngày 31/12/2023 ký giữa BDCC và Công ty T3, bị đơn cho rằng không hợp pháp vì sai về thẩm quyền ký kết. Kế toán trưởng của BDCC không được ủy quyền để ký xác nhận công nợ nên biên bản xác nhận công nợ này không có giá trị. Tuy nhiên, giữa BDCC và Công ty T3 đã ký biên bản đối chiếu, xác nhận công nợ nhiều năm. BDCC thừa nhận nội dung xác nhận công nợ và hóa đơn VAT Công ty T3 đã xuất cho BDCC trên theo giá trị xác nhận của biên bản này; bị đơn cũng đã hạch toán hóa đơn của Công ty T3 trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Phần nghĩa vụ phải nộp của Công ty T3 tại mục I của “Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ thời điểm 31/12/2023” Công ty T3 cũng đã thực hiện xong cho BDCC. Như vậy, đại diện ký biên bản xác nhận công nợ ngày 31/12/2023 của BDCC không đúng thẩm quyền nhưng bị đơn biết và thực hiện theo nội dung của biên bản xác nhận công nợ này nên Biên bản xác nhận công nợ ngày 31/12/2023 đã được thừa nhận và có giá trị thực hiện đối với các bên.
[8] Bị đơn thừa nhận đơn phản tố được nộp sau phiên họp công khai chứng cứ nên Tòa án không chấp nhận đơn phản tố của bị đơn là phù hợp quy định pháp luật. Nhưng bị đơn cho rằng Tòa án sơ thẩm không thụ lý đơn phản tố đối với gói thầu A2 của BDCC làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của BDCC vì Công ty T3 cố tình tách biệt các hợp đồng có liên quan nhằm né tránh trách nhiệm phát hành bảo lãnh chờ phê duyệt quyết toán theo Hợp đồng 6615/BDCC-BD5, với giá trị lên tới 4.236.592.722 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, gói thầu A2 mặc dù không được thụ lý giải quyết trong vụ án này nhưng sau đó Công ty T3 đã nộp đơn khởi kiện BDCC đối với gói thầu A2 và Tòa án đã thụ lý giải quyết một vụ án độc
13
lập khác nên quyền và nghĩa vụ của bị đơn đều được đảm bảo. Hơn nữa, về thủ tục tố tụng việc Tòa án không thụ lý yêu cầu độc lập sau khi mở phiên họp công khai chứng cứ là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, yêu cầu này của bị đơn không có căn cứ chấp nhận. Từ những phân tích trên xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn BDCC về việc không thanh toán cho nguyên đơn Công ty T3 về phần giá trị còn lại của Hợp đồng số 0103 ngày 01/3/2027 và phụ lục hợp đồng số 01 ngày 26/3/2017 giữa hai bên.
· Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[9] Đối với Hợp đồng kinh tế số 035/2017/HĐKT ngày 03/5/2017 về việc mua bán bê tông thương phẩm giữa Công ty T3 và BDCC: Bản án sơ thẩm đã xét xử buộc bị đơn BDCC phải thanh toán cho nguyên đơn Công ty T3 số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 88.851.559 đồng và số tiền nợ lãi chưa thanh toán là 9.727.420 đồng (thời điểm tính lãi từ ngày 01/01/2024). Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn đồng ý với bản án sơ thẩm và không có ý kiến gì; tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn thay đổi nội dung kháng cáo, không kháng cáo về nội dung xét xử liên quan đến Hợp đồng số 035 nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
[10] Đối với số 0103/2017/BDCC-BACHDANG5 ngày 01/3/2017 và Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 26/3/2017 giữa nguyên đơn và bị đơn: Hợp đồng số 0103 được ký kết giữa các bên trên cơ sở tự nguyện theo quy định tại Điều 11 Luật Thương mại; tuân thủ các quy định tại mục 2 chương VII Luật Xây dựng và các điều 398, 401, 403 Bộ luật Dân sự. Do vậy, hợp đồng số 0103 và phụ lục hợp đồng đã được giao kết giữa hai bên là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên được quy định tại các điều 138, 139, 141, 147 của Luật xây dựng.
[11] Quá trình thực hiện, Công ty T3 đã thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng và phụ lục, tiến hành thi công xây dựng, bàn giao công trình cho nhà thầu Tổng Công ty T3 theo đúng thời hạn trong hợp đồng; thể hiện tại Biên bản nghiệm thu số 1/12A-XL/BD5/NTCTXL ngày 26/4/2017 xác nhận đạt yêu cầu kỹ thuật và chất lượng. Sau khi thi công hoàn thành và bàn giao công trình, ngày 06/7/2017 Tổng Công ty T3 và Công ty cổ phần T3 cùng nhau xác nhận giá trị sản lượng theo biểu giá của hợp đồng Công ty T3 đã thi công chi tiết theo Hồ sơ xác nhận khối lượng quyết toán là 18.043.172.000 đồng và xuất hóa đơn cho BDCC. Để đảm bảo khách quan số liệu quyết toán giữa hai bên và phục vụ kiểm toán, ngày 16/9/2019, Công ty T3 hoàn thành hồ sơ quyết toán sau thanh tra Chính Phủ điều chỉnh giá trị quyết toán công trình là 17.981.311.000 đồng (giảm trừ so với giá trị theo hợp đồng là 61.866.000 đồng). BDCC đồng ý với giá trị quyết toán này nên ngày 25/8/2019, Công ty T3 đã xuất hóa đơn thanh toán khoản tiền giảm trừ này cho Tổng Công ty T3 - CTCP theo đúng quy định. Hóa đơn quyết toán công trình BDCC đã hạch toán thuế của doanh nghiệp. Như vậy, Công ty T3 đã hoàn thành nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, bàn giao công trình và được BDCC nghiệm thu
14
đưa vào sử dụng từ cuối năm 2017. Hồ sơ quyết toán cũng đã được hai bên thống nhất theo kết quả kiểm toán của thanh tra chính phủ. Trong quá trình sử dụng, các bên đều xác nhận công trình do Công ty T3 xây dựng không hỏng và không phải sửa chữa gì.
[12] Theo biên bản xác nhận công nợ ngày 31/12/2023 Công ty T3 còn phải thành toán tiền phí bảo lãnh, phí sửa chữa bàn giao gói thầu 12A cầu vượt Nguyễn Bỉnh K. Phía nguyên đơn trình bày hạng mục công trình ép cọc bê tông 02 mố cầu của “Cầu vượt Nguyễn Bỉnh K” nằm trong gói thầu 12A do Công ty T3 thi công không phải sửa chữa gì nhưng do phân bổ tiền phí sửa chữa cho tất cả các hạng mục của gói thầu nên mới có khoản chi trả này. Thực tế nguyên đơn đã thanh toán toàn bộ các khoản được liệt kê tại mục I của Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/12/2023 giữa hai bên. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cũng thừa nhận nội dung này. Tuy nhiên, Tổng Công ty T3 đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng kỳ hạn như đã cam kết trong các hợp đồng, phụ lục hợp đồng hai bên đã ký kết. Sau khi bàn giao hạng mục công trình theo hợp đồng, hàng năm giữa hai bên đều ký biên bản xác nhận công nợ và Công ty T3 đã nhiều lần gửi Công văn đề nghị BDCC thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ đối với 02 hợp đồng nêu trên nhưng bị đơn không thanh toán. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, theo kết quả đối chiếu công nợ xác nhận giữa hai bên bị đơn BDCC còn phải thanh toán nợ gốc còn lại của Hợp đồng số 0103/2017/BDCC-BACHDANG5 ngày 01/3/2017 là 899.065.550 đồng.
[13] Về tiền lãi của khoản nợ gốc chưa thanh toán theo hợp đồng: Sau khi Công ty T3 hoàn thành hồ sơ quyết toán sau thanh tra Chính phủ ngày 16/9/2019, giữa hai bên đã thống nhất số liệu quyết toán của Hợp đồng số 0103. Do BDCC vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ giá trị công trình cho Công ty T3 nên hàng năm giữa hai bên đều ký xác nhận công nợ. Thời điểm ký xác nhận công nợ trước khi nguyên đơn khởi kiện là ngày 31/12/2023 nên Công ty T3 đồng ý thời điểm tính lãi từ ngày 01/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 24/10/2024 = 296 ngày theo mức lãi suất trung bình của 03 ngân hàng tại thời điểm xét xử là 13,5%/năm đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán; tương ứng số tiền nợ lãi còn lại là 98.429.204 đồng
[14] Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của Công ty T3 buộc BDCC phải thanh toán khoản tiền nợ gốc còn lại của hợp đồng 0103 và phụ lục giữa hai bên và tiền lãi của tiền nợ gốc chưa thanh toán là có căn cứ, cần chấp nhận. Cần buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi mà bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên đơn theo hợp đồng số 0103 và phụ lục ký giữa hai bên là 899.065.550 đồng + 98.429.204 đồng = 997.494.754 đồng. Từ những phần tích trên, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm
15
số 05/2024/DKTM-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân theo quy định tại khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[15] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Vì kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn BDCC phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 148; khoản 3 Điều 200; các điều 202; 272; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 11 của Luật Thương mại; các điều 138, 139, 141, 147 của Luật Xây dựng; các điều 398, 401, 403 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ và khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
X: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Tổng Công ty T3; giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2024/KDTM-ST ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần T3 đối với bị đơn Tổng Công ty T3 - T3, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền còn nợ chưa thanh toán và tiền lãi chậm trả của 02 Hợp đồng kinh tế số 0103/2017/BDCC-BACHDANG5 ngày 01/3/2017 và Hợp đồng kinh tế số 035/2017/HĐKT ngày 03/5/2017 là 1.096.073.733 đồng; cụ thể:
- Buộc Tổng Công ty T3 phải trả cho Công ty cổ phần T3 số tiền còn nợ chưa thanh toán của Hợp đồng số 0103/2017/BDCC-BACHDANG5 ngày 01/3/2017 là 899.065.550 đồng và khoản tiền lãi chậm trả là 98.429.204 đồng; tổng cộng là 997.494.754 đồng.
- Buộc Tổng Công ty T3 phải trả cho Công ty cổ phần T3 số tiền còn nợ chưa thanh toán của Hợp đồng kinh tế số 035/2017/HĐKT ngày 03/5/2017 là 88.851.559 và khoản tiền lãi chậm trả là 9.727.420 đồng; tổng cộng là 98.578.979 đồng.
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
16
lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí:
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty cổ phần T3 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Công ty cổ phần T3 tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.800.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005845 ngày 25/4/2024 Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân và 16.500.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003423 ngày 29/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Tổng Công ty T3 - CTCP phải nộp 44.882.212 đồng (Bốn mươi bốn triệu tám trăm tám mươi hai nghìn hai trăm mười hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Tổng Công ty T3 - CTCP phải nộp 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003503 ngày 13/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Tổng Công ty T3 đã nộp đủ án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thu |
17
Bản án số 02/2025/KDTM-PT ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng kinh tế
- Số bản án: 02/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng kinh tế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
