|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/KDTM-PT
Ngày 11 tháng 3 năm 2025
“V/v tranh chấp HĐ tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Giang
Các Thẩm phán: Bà Điêu Thị Bích Lượt
Ông Nguyễn Hán Hưởng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Nguyễn Thái Việt – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 02/2025/KDTM-PT ngày 09 tháng 01 năm 2025 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 07/2024/KDTM-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 02/2025/QĐXXPT-KDTM ngày 24/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V;
Địa chỉ: Số H, L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản trị - Ngân hàng thương mại cổ phần V;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A - Phó Giám đốc Trung tâm V;
Người được ủy quyền lại tham gia tố tụng:
- + Bà Phạm Thị T – Trưởng bộ phận xử lý nợ
- + Ông Hoàng Kim C – Cán bộ xử lý nợ
- + Bà Phạm Thu H – Cán bộ xử lý nợ
Địa chỉ: Tầng G, tòa nhà V, số G D, quận C, thành phố Hà Nội.
(Theo văn bản ủy quyền số 1133/20234/UQ-VPB ngày 12/9/2024).
Đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn A1;
Địa chỉ: Số nhà A đường H, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Anh T1, sinh năm: 1982 - Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn A1. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1960;
- Ông Phạm Văn B, sinh năm: 1957;
Đều có địa chỉ: Số nhà A, đường H, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Đều có mặt
- Chị Phạm Thị Thu T2, sinh năm: 1990;
HKTT: Khu A, tổ F, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Hiện đang sinh sống tại: Số nhà A, đường H, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt
- Ông Phạm Anh T1, sinh năm: 1982;
Địa chỉ: Số nhà A, đường H, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Trong các năm 2021, 2022, 2023 Công ty trách nhiệm hữu hạn A1 (sau đây gọi tắt là Công ty A1) đã vay Ngân hàng thương mại cổ phần V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng V1) số tiền 7.186.000.000 đồng (Bẩy tỷ một trăm tám mươi sáu triệu đồng) theo các Hợp đồng cho vay hạn mức số: 011221-5146497-01-SME ngày 02/12/2021, Hợp đồng cho vay hạn mức số: 040522-5146497-01-SME ngày 04/5/2022, Hợp đồng cho vay số: 170123-5146497-01-SME ngày 17/01/2023 cùng các Khế ước nhận nợ theo từng giai đoạn giải ngân được ký giữa Công ty A1 với Ngân hàng V1, chi nhánh P. Để đảm bảo khoản vay, Công ty A1 đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 149, tờ bản đồ số 9, địa chỉ: Khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; GCNQSD đất số: BY 989084 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 do UBND thành phố V cấp ngày 13/02/2015 theo Hợp đồng thế chấp ngày 02/12/2021 giữa bà Nguyễn Thị H1 với Ngân hàng V1. Từ ngày 06/02/2023 đến nay, Công ty A1 đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng V1 mặc dù Ngân hàng V1 đã thường xuyên nhắc nhở nhưng Công ty A1 vẫn không thực hiện. Nay Ngân hàng V1 đề nghị Toà án nhân dân thành phố Việt Trì:
- Buộc Công ty A1 thanh toán cho Ngân hàng V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 30/9/2024 là: 9.616.813.156 đồng (Chín tỷ sáu trăm mười sáu triệu tám trăm mười ba nghìn một trăm năm sáu đồng) trong đó nợ gốc là: 7.161.681.082 đồng (Bẩy tỷ một trăm sáu mốt triệu sáu trăm tám mốt nghìn không trăm tám hai đồng), lãi quá hạn là: 2.442.977.049 đồng (Hai tỷ bốn trăm bốn mươi hai triệu chín trăm bẩy mươi bẩy nghìn không trăm bốn chín đồng), lãi chậm trả là: 12.155.025 đồng (Mười hai triệu một trăm năm lăm nghìn không trăm hai lăm đồng).
- Công ty A1 phải trả toàn bộ nợ lãi, tiền phạt chậm trả và các khoản phát sinh liên quan đến số tiền nợ gốc cho đến khi Công ty A2 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng V1.
- Trường hợp Công ty A1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V1 được thì Ngân hàng có quyền xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp ngày 02/12/2021 giữa bà Nguyễn Thị H1 với Ngân hàng V1 thông qua Cơ quan Thi hành án.
- Ông Phạm Anh T1 có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho Công ty A1 theo các Hợp đồng bảo lãnh số: 040522-5146497-01-SME/BLCN ngày 04/5/2022, Hợp đồng bảo lãnh số: 01/HĐBL/VPBANK ngày 02/12/2021 và Hợp đồng bảo lãnh số: 01/HĐBL/5146497 ngày 17/01/2023.
Bị đơn, Công ty A1 và ông Phạm Anh T1 - người đại diện theo pháp luật xác nhận:
Toàn bộ nội dung vay, số tiền vay, số tiền chưa trả cũng như tài sản thế chấp giữa Công ty A1 và Ngân hàng V1 đúng như Ngân hàng trình bày. Công ty có quan điểm: Do hiện nay Công ty không có năng chi trả gốc và lãi nên đề nghị Ngân hàng miễn toàn bộ tiền lãi cho Công ty, số tiền gốc Công ty sẽ sắp xếp trả dần Ngân hàng trong thời gian sớm nhất có thể. Gia đình ông T1 hiện đang sinh sống trên căn nhà là tài sản thế chấp, ngoài căn nhà này thì không còn căn nhà nào khác nên đề nghị Ngân hàng cho thời gian 02 (Hai) năm để gia đình thu xếp chỗ ở và trả nợ dần.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H1 có quan điểm: Anh Phạm Anh T1 - Giám đốc Công ty A1 là con đẻ của bà nên ngày 02/12/2021 bà đã tự nguyện ký hợp đồng thế chấp với Ngân hàng V1, theo đó bà đồng ý thế chấp toàn bộ tài sản riêng của bà gồm: Khối tài sản nhà và đất thuộc thửa đất số 149, tờ bản đồ số 9, diện tích 79,9m² ở khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để đảm bảo cho các khoản vay của Công ty A1 với Ngân hàng V1. Tại thời điểm thế chấp, tài sản này được định giá là 8.258.000.000 đồng (Tám tỷ hai trăm năm mươi tám triệu đồng). Nay, Ngân hàng khởi kiện Công ty A1 bà cho rằng việc Công ty nợ thì Công ty có nghĩa vụ phải trả, trường hợp Công ty không có khả năng trả nợ thì bà đồng ý thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, hợp tác với Ngân hàng trong việc xử lý tài sản đảm bảo nhưng bà đề nghị Ngân hàng cho gia đình bà 02 (Hai) năm để gia đình bà thu xếp chỗ ở vì hiện nay gia đình bà không còn nơi nào để sinh sống trong khi chồng bà đang bệnh nặng và có cháu nhỏ.
- Ông Phạm Anh T1 có quan điểm như đã trình bày, ngoài ra ông đề nghị Ngân hàng và Toà cho thời gian để kéo dài thời hạn trả nợ.
- Ông Phạm Văn B và chị Phạm Thị Thu T2 từ chối viết bản tự khai cũng như từ chối ký các vản bản liên quan.
Tại bản án kinh doanh thương mại số 0 9/2024/KDTM-ST ngày 30/9/2024 và Quyết định sửa chữa bổ sung bản án sơ thẩm số 08/2024/QĐ-SCBSQĐ ngày 11/10/2024 đã sửa thành Bản án số 07/2024/KDTM-ST của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đã xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 320, Điều 323, Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 210 quy định chuyển tiếp của Luật các Tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15, ngày 18/01/2024 của Quốc hội;
Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/1/2019 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V về việc buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn A1 có nghĩa vụ trả theo các Hợp đồng cho vay hạn mức số: 011221-5146497-01-SME ngày 02/12/2021, Hợp đồng cho vay hạn mức số: 040522-5146497-01-SME ngày 04/5/2022, Hợp đồng cho vay số: 170123-51464497-01-SME ngày 17/01/2023 cùng các Khế ước nhận nợ theo từng giai đoạn giải ngân được ký giữa Công ty A1 với Ngân hàng V1, chi nhánh P.
- Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn A1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền vay còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/9/2024) là 9.616.813.156 đồng (Chín tỷ sáu trăm mười sáu triệu tám trăm mười ba nghìn một trăm năm sáu đồng) trong đó nợ gốc là: 7.161.681.082 đồng (Bẩy tỷ một trăm sáu mốt triệu sáu trăm tám mốt nghìn không trăm tám hai đồng) lãi quá hạn là: 2.442.977.049 đồng (Hai tỷ bốn trăm bốn hai triệu chín trăm bẩy mươi bẩy nghìn không trăm bốn chín đồng), lãi chậm trả là: 12.155.025 đồng (Mười hai triệu một trăm năm lăm nghìn không trăm hai lăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty trách nhiệm hữu hạn A1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn A1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì làm thủ tục để xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thuộc thửa đất số 149, tờ bản đồ số 9, diện tích 79,9m² ở khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, GCNQSD đất số: BY 989084 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 do UBND thành phố V cấp ngày 13/02/2015 để thu hồi nợ.
- Trường hợp sau khi bán tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán nợ thì Công ty trách nhiệm hữu hạn A1 và ông Phạm Anh T1 có nghĩa vụ trả tiếp phần nợ (gốc và lãi) còn thiếu cho Ngân hàng thương mại cổ phần V cho đến khi khoản nợ theo các Hợp đồng cho vay hạn mức số: 011221-5146497-01-SME ngày 02/12/2021, Hợp đồng cho vay hạn mức số: 040522-5146497-01-SME ngày 04/5/2022, Hợp đồng cho vay số: 170123-51464497-01-SME ngày 17/01/2023 cùng các Khế ước nhận nợ theo từng giai đoạn giải ngân được ký giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn A1 với Ngân hàng thương mại cổ phần V, chi nhánh P được thực hiện xong.
Bản án còn tuyên quyền thi hành án, lãi và lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024 ông Phạm Văn B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo cho rằng phần Quyết định của Bản án sơ thẩm cho phép Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì làm thủ tục để xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thuộc thửa đất số 149, tờ bản đồ số 09, diện tích 79,9m2 ở khu F, phường N, thành phố V, Giấy CNQSD đất số BY989084 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 do UBND thành phố V cấp ngày 13/02/2015 để thu hồi nợ, tính đến hết ngày 30/9/2024 là 9.616.813.156đ, bao gồm cả các khoản vay thế chấp bằng tài sản đảm bảo và các khoản vay tín chấp là không công bằng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của ông. Do vậy ông yêu cầu cấp phúc thẩm: Xác minh lại nguồn gốc ngôi nhà trên thửa đất số 149, TBĐ số 09 vì đây là tài sản chung có sự đóng góp của cả vợ chồng ông và Xem xét lại việc Ngân hàng V1 sử dụng tài sản bảo đảm cho Hợp đồng vay thế chấp để bảo đảm cho cả các Hợp đồng vay tín chấp (không có tài sản bảo đảm) của Công ty A1.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phạm Văn B vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà và các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi HĐXX nghị án cơ bản đã thực hiện đúng theo quy định của BLTTDS;
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 BLTTDS; khoản 1 Điều 29, Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn B; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 30/9/2024 của TAND thành phố Việt Trì.
Về án phí: ông Phạm Văn B được miễn án phí phúc thẩm vì thuộc diện người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của ông Phạm Văn B trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Xét nội dung kháng cáo của ông Phạm Văn B:
Trong các năm 2021, 2022, 2023 Công ty trách nhiệm hữu hạn A1 đã vay của Ngân hàng V1 số tiền 7.186.000.000 đồng (Bẩy tỷ một trăm tám mươi sáu triệu đồng) theo các Hợp đồng cho vay hạn mức số: 011221-5146497-01-SME ngày 02/12/2021, Hợp đồng cho vay hạn mức số: 040522-5146497-01-SME ngày 04/5/2022, Hợp đồng cho vay số: 170123-5146497-01-SME ngày 17/01/2023 cùng các Khế ước nhận nợ theo từng giai đoạn giải ngân được ký giữa Công ty A1 với Ngân hàng V1, chi nhánh P. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty A1 Tuấn T3 mới trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 24.318.918 đồng, còn nợ số tiền gốc là 7.161.681.082 đồng; tiền lãi quá hạn và lãi chậm trả là 2.455.132.074 đồng.
Để đảm bảo khoản vay, Công ty A1 đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 149, tờ bản đồ số 9, địa chỉ: Khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; GCNQSD đất số: BY 989084 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 do UBND thành phố V cấp ngày 13/02/2015 theo Hợp đồng thế chấp ngày 02/12/2021 giữa bà Nguyễn Thị H1 với Ngân hàng V1.
Mặc dù quyền sử dụng đất đứng tên riêng bà Nguyễn Thị H1 do em trai bà H1 tặng cho; Ngôi nhà 04 tầng trên đất là do ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị H1 cùng xây dựng. Tuy nhiên, trước khi bà Nguyễn Thị H1 ký hợp đồng thế chấp tài sản với Ngân hàng V1, ngày 02/12/2021 ông Phạm Văn B - là chồng bà H1, đã có văn bản cam kết về tài sản được lập tại Văn phòng C1. Nội dung bản cam kết thể hiện: Tài sản “Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, diện tích 79,9m2 tại địa chỉ: Khu F phường N, số thửa 149, TBĐ số 09, theo Giấy CNQSD đất số BY989084 do U cấp ngày 13/02/2015, số vào sổ cấp GCN CH989” là tài sản riêng của bà Nguyễn Thị H1. Bà Nguyễn Thị H1 là chủ sở hữu duy nhất của tài sản trên và được toàn quyền thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản theo quy định của pháp luật; Ngoài ra, ông B còn cam kết chưa và sẽ không nhập tài sản trên vào tài sản chung của hai vợ chồng khi tài sản còn đang thế chấp tại ngân hàng. Tài sản không có bất cứ tranh chấp, khiếu nại nào. Những thông tin về nhân thân trong cam kết này là đúng sự thật; Văn bản cam kết này được lập hoàn toàn tự nguyên, không bị lừa dối, ép buộc.
Cùng ngày, bà H1 (vợ ông B) cũng lập văn bản thỏa thuận, cam kết với Ngân hàng là toàn bộ tài sản trên đất (01 ngôi nhà 4 tầng, 1 tum xây dựng năm 2016) thuộc sở hữu riêng, toàn bộ của bên thế chấp và không liên quan tới quyền sở hữu, sử dụng hay công sức, tài sản đóng góp của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào khác. Đồng thời bà H1 đề nghị được dùng tài sản này để bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai của Công ty A1 đối với V1 Ngân hàng. Trường hợp công ty A1 vi phạm bất kỳ nghĩa vụ với V1, V1 có quyền sử dụng toàn bộ tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Như vậy khẳng định rằng, trước khi bà H1 ký hợp đồng thế chấp tài sản với Ngân hàng, ông B đã tự nguyện chuyển giao toàn bộ quyền sử dụng, sở hữu tài sản chung của vợ chồng ông cho bà H1. Việc bà H1 dùng toàn bộ tài sản thế chấp để bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, các khoản phạt, các khoản bồi thường thiệt hại và tất cả các nghĩa vụ tài chính khác của Bên vay với bên Ngân hàng phát sinh từ tất cả các văn kiện tín dụng được ký kết giữa bên vay với bên Ngân hàng đã được bà H1 đồng ý, nhất trí.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V1 về việc buộc Công ty A1 phải trả cho Ngân hàng số tiền vay nợ gốc: 7.161.681.082 đồng, tiền lãi quá hạn và lãi chậm trả là 2.455.132.074 đồng; Trường hợp Công ty A1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì V1 có quyền yêu cầu Chi cục THADS thành phố V làm thủ tục để xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thuộc thửa đất số 149, TBĐ số 09, diện tích 79,7m2 ở khu F phường N, TP V, Giấy CNQSD đất số BY989084 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 do U cấp ngày 13/02/2015 để thu hồi nợ.
Tại Tòa án cấp sơ thẩm, ông B từ chối trình bày lời khai, không ký các biên bản làm việc với Tòa án. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông B, bà H1 và anh T1 đều thừa nhận quyền sử dụng đất là của bà H1 nhận tặng cho từ em trai, ngôi nhà 04 tầng trên đất là của ông B và bà H1 cùng nhau xây dựng và xác nhận từ thời điểm ký hợp đồng thế chấp đến nay không làm phát sinh thêm bất cứ tài sản nào khác ngoài ngôi nhà và quyền sử dụng đất; ngoài ra ông B, bà H1 và anh T1 không cung cấp được thêm tài liệu chứng cứ gì khác.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng V1 với Công ty A1 và bà H1 được thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật, các bên tham gia ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện để buộc Công ty A1 phải có trách nhiệm trả khoản nợ gốc và các khoản lãi phát sinh theo hợp đồng; Trường hợp công ty A1 không trả được nợ thì sẽ xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng lý đúng quy định của pháp luật.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên: Xét thấy kháng cáo của ông Phạm Văn B là không có căn cứ nên không được chấp nhận. Do vậy, cần giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
- Về án phí phúc thẩm: Ông Phạm Văn B là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí phúc thẩm cho ông B là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn B
Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 07/2024/KDTM-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29, Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí phúc thẩm cho ông Phạm Văn B.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 02/2025/KDTM-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 02/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vp Bank - Tuấn Thủy
