Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/KDTM-PT

Ngày 4/3/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng và bà Trần Thị Hồng.

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 4 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2024/TLPT-KDTM ngày 20 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 01/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N1, địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Đình P, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N1 chi nhánh huyện K, địa chỉ: Số C đường V, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Thanh N, sinh năm 1988 và bà Trần Thị Q, sinh năm 1993, địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Ông N ủy quyền cho bà Q tham gia tố tụng tại Tòa án. Có mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Quỳnh .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1.1. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Đình P trình bày:

Bà Trần Thị Q và ông Trần Thanh N có vay vốn tại Ngân hàng N1 chi nhánh huyện K (sau đây gọi chung là Ngân hàng) theo Hợp đồng tín dụng số 5008LAV202300966, phương thức vay vốn: Cho vay theo hạn mức, hạn mức cho vay 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng); ngày 31/3/2023, bà Q và ông N đã nhận nợ số tiền 5.000.000.000 đồng theo báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 5008LDS202301346, mục đích sử dụng tiền vay: Vay vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh Trần Thị Q, thời hạn vay vốn 10 tháng kể từ ngày 31/03/2023, hạn trả nợ cuối cùng 31/01/2024.

Để thực hiện biện pháp bảo đảm cho Hợp đồng vay số 5008LAV202300966 ngày 31/3/2023 thì bà Q và ông N đã thế chấp tài sản theo các hợp đồng:

  • - Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 339 ngày 30/3/2023 được ký kết giữa Ngân hàng và bà Trần Thị Q; Hợp đồng bảo đảm này đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 31/3/2023 với giá trị tài sản bảo đảm 5.801.000.000 đồng; tài sản bảo đảm là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số CI 881047, số vào sổ: CS 02191 do Sở T (TN&MT) tỉnh Gia Lai cấp ngày 08/6/2017; GCNQSDĐ số CC 607617, số vào sổ: CS 01731 do Sở TN&MT tỉnh G cấp ngày 25/3/2016 và GCNQSDĐ số CC 607615, số vào sổ CS 01733 do Sở TN&MT tỉnh G cấp ngày 25/3/2016.
  • - Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 340 ngày 30/3/2023 được ký kết giữa Ngân hàng và bà Trần Thị Q; Hợp đồng bảo đảm này đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 31/3/2023 với giá trị tài sản bảo đảm 1.004.000.000 đồng; tài sản bảo đảm là GCNQSDĐ số CC 607616, số vào sổ CS 01732 do Sở TN&MT tỉnh G cấp ngày 25/3/2016.

Sau khi vay vốn, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc bằng nhiều hình thức yêu cầu bà Q và ông N thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số: 5008LAV202300966 ngày 31/03/2023. Tuy nhiên, tính đến nay, bà Q và ông N vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng. Sau khi vay vốn tính đến hết ngày 02/5/2024, tổng dư nợ của bà Q và ông N tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại Ngân hàng là 5.389.712.330 đồng, gồm: Nợ gốc là 5.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 321.027.398 đồng và nợ lãi quá hạn là 68.684.932 đồng.

Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu TAND huyện Kbang giải quyết buộc bà Q và ông N phải trả nợ: Nợ gốc là 5.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 321.027.398 đồng và nợ lãi quá hạn là 68.684.932 đồng (các khoản lãi tạm tính đến ngày 02/5/2024); tổng cộng là 5.389.712.330 đồng cùng số tiền lãi phát sinh tiếp theo.

Tiếp đó, Ngân hàng bổ sung thêm yêu cầu bà Q và ông N phải trả khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 03/5/2024 đến ngày 30/9/2024 (ngày xét xử sơ thẩm), gồm: Nợ lãi trong hạn là 225.465.753 đồng, nợ lãi quá hạn là 112.732.877 đồng; như vậy, Ngân hàng yêu cầu bà Q và ông N phải trả tổng cộng cả gốc và lãi là 5.727.910.960 đồng, gồm: Nợ gốc là 5.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 546.493.151 đồng và nợ lãi quá hạn là 181.417.809 đồng. Đồng thời, bà Q và ông N cũng phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 5008LAV202300966 ngày 31/3/2023 kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án cho đến ngày bà Q và ông N trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.

Ngoài ra, Ngân hàng còn yêu cầu nếu bà Q và ông N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng thông qua Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của bà Q và ông N theo các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 339 và số 340 cùng ngày 30/3/2023. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Q và ông N để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

1.2 Bị đơn ông Trần Thanh N và bà Trần Thị Q trình bày:

Nguyên đơn khởi kiện là đúng sự thật, vợ chồng ông bà có vay nợ Ngân hàng tính đến ngày 02/5/2024 là 5.389.712.330 đồng nợ gốc và lãi, ông bà sẽ thu xếp phương án trả nợ cho Ngân hàng.

2. Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:

Căn cứ các điều 30, 35, 39, 91, 93, 94, 95, 108, 144, 147, 157, 158, 227, 228, 238, 266 và 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 117, 280, 299, 317, 319, 322, 357, 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 100 và 103 của Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ các điều 4 và 306 của Luật Kinh doanh thương mại;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1, cụ thể như sau:

1. Buộc bị đơn ông Trần Thanh N và bà Trần Thị Q phải trả cho Ngân hàng N1 số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số: 5008LAV202300966 ngày 31/3/2023 là 5.727.910.960 đồng (năm tỷ, bảy trăm hai mươi bảy triệu, chín trăm mười nghìn, chín trăm sáu mươi đồng), gồm: Nợ gốc là 5.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 546.493.151 đồng và nợ lãi quá hạn là 181.417.809 đồng (các khoản lãi tính hết ngày 30/9/2024).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi trong hạn và quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Trường hợp nếu ông Trần Thanh N và bà Trần Thị Q không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng thông qua Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông N và bà Q để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Nếu việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng thông qua Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông N và bà Q để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

3. Về kháng cáo, kháng nghị:

Ngày 03/10/2024, bị đơn bà Trần Thị Q có đơn kháng cáo không đồng ý trả nợ một lần cho Ngân hàng, đề nghị kéo dài thời hạn trả nợ 06 tháng nữa, sau 06 tháng thì được trả nợ dần thành 03 lần.

Nguyên đơn và bị đơn ông Trần Thanh N không kháng cáo.

Bản án không bị kháng nghị.

4. Diễn biến tại phiên tòa:

  • - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • - Bị đơn bà Trần Thị Quỳnh G nguyên nội dung kháng cáo.
  • - Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị đơn bà Trần Thị Q phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.

[2]. Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Q về việc không đồng ý trả nợ một lần cho Ngân hàng, đề nghị kéo dài thời hạn trả nợ nhiều lần và thời hạn trả nợ là 06 tháng, sau 06 tháng thì được trả nợ dần thành 03 lần. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hợp đồng tín dụng số 5008LAV202300966 ngày 31/3/2023 có thời hạn vay 10 tháng, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 31/01/2024.

Tại điểm c khoản 2 Điều 7 Hợp đồng tín dụng số 5008LAV202300966 ngày 31/3/2023 quy định về nghĩa vụ của khách hàng như sau:

“c) Hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay, phí đầy đủ đúng hạn thỏa thuận tại Hợp đồng này”.

Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, Tòa án huyện đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận về thời hạn trả nợ nhưng không thành.

Do đó, yêu cầu kháng cáo của bị đơn thấy rằng chỉ là ý chí của một bên và không có sự đồng ý của nguyên đơn và không có căn cứ pháp lý để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Từ những phân tích nêu trên, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Quỳnh .

[3]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà Trần Thị Q phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 30, 35, 39, 91, 93, 94, 95, 108, 144, 147, 157, 158, 227, 228, 238, 266 và 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 117, 280, 299, 317, 319, 322, 357, 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 100 và 103 của Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ các điều 4 và 306 của Luật Kinh doanh thương mại;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Quỳnh .

Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn Ngân hàng N1 với bị đơn ông Trần Thanh N, bà Trần Thị Quỳnh .

2. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1, cụ thể như sau:

2.1. Buộc bị đơn ông Trần Thanh N và bà Trần Thị Q phải trả cho Ngân hàng N1 thông qua Ngân hàng tổng số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số: 5008LAV202300966 ngày 31/3/2023 là 5.727.910.960 đồng (năm tỷ, bảy trăm hai mươi bảy triệu, chín trăm mười nghìn, chín trăm sáu mươi đồng), gồm: Nợ gốc là 5.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 546.493.151 đồng và nợ lãi quá hạn là 181.417.809 đồng (các khoản lãi tính hết ngày 30/9/2024).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi trong hạn và quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2.2. Trường hợp nếu ông Trần Thanh N và bà Trần Thị Q không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng thông qua Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông N và bà Q để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Nếu việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng thông qua Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông N và bà Q để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

2.3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Trần Thanh N và bà Trần Thị Q hoàn trả lại cho Ngân hàng N1 thông qua Ngân hàng số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng)

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi bị đơn thi hành xong khoản tiền nói trên thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2.4. Về án phí.

2.4.1. Án phí sơ thẩm:

Buộc bị đơn ông Trần Thanh N và bà Trần Thị Q phải chịu số tiền án phí là 113.727.910 đồng (một trăm mười ba triệu, bảy trăm hai mươi bảy nghìn, chín trăm mười đồng).

Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng N1 thông qua Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 56.694.856 đồng (năm mươi sáu triệu, sáu trăm chín mươi bốn nghìn, tám trăm năm mươi sáu đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng phí, lệ phí Toà án số 0002166 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, Gia Lai.

2.4.2. Về án phí phúc thẩm:

Bà Trần Thị Q phải chịu 2.000.000 (hai triệu) đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, được trừ toàn bộ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002338 ngày 03 tháng 10 năm 2024 và số tiền 1.700.000 (một triệu bảy trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002391 ngày 11 tháng 11 năm 2024 đều của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND huyện Kbang;
  • - VKSND huyện Kbang;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Kbang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Toà DS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Lê Văn Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/KDTM-PT ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 02/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Q. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger