Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HS-ST

Ngày 31 - 10 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Minh Ngọc, bà Nguyễn Thị Kim Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cầm Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Lý A T

(tên gọi khác: Không), sinh ngày 16/9/1960 tại xã M, tỉnh Sơn La; nơi thường trú: Bản P, xã M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lý A P và bà Thào Thị S (đều đã chết); vợ là Sồng Thị M, sinh năm 1963, có 10 con, con lớn nhất sinh năm 1981, con nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2025 cho đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lý A T: Ông Đặng Văn Q – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.

- Người phiên dịch: Ông Mùa Lao D, sinh năm 1988. Trú tại: Bản P, phường C, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 40 phút, ngày 10/7/2025, Tổ công tác Công an xã M, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản P, xã M, tỉnh Sơn La phát hiện Lý A T đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, Lý A T tự giác giao nộp 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa cục bột màu trắng, T khai nhận là ma túy loại Heroine cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 11/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Lý A T kết quả: Cục bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Lý A T có khối lượng 0,72 gam, lấy 0,14 gam làm mẫu giám định ký hiệu T, còn lại 0,58 gam ký hiệu T1 nhập kho vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 777/KL-KTHS ngày 14/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,14 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,72 gam; Loại Heroine (H).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lý A T khai nhận: Bản thân thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 22 giờ ngày 10/7/2025 T mang theo số tiền 500.000 đồng đi bộ từ nhà ở bản P, xã M, tỉnh Sơn La đến khu vực bản T, xã M, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng (chữa đau vai). Khi đến đoạn đường đầu bản T, xã M, tỉnh Sơn La, T gặp 01 người đàn ông khoảng 30 tuổi, nhìn giống người nghiện ma túy đang đứng bên đường (Táư không quen biết), qua trao đổi T hỏi và mua được 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng, có được ma tuý T cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về, khi T đi đến đoạn đường thuộc bản P, xã M, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an xã M, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng nêu trên.

Cáo trạng số 02/CT-VKS –KV1 ngày 13/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La truy tố Lý A T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo: Lý A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý A T từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
  2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng: 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mẫu giám định ký hiệu T = 0,58 gam.

  3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án, bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố.

Người bào chữa cho bị cáo Lý A T có ý kiến: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai và đưa ra các căn cứ giảm nhẹ như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người cao tuổi và là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Đề nghị xử phạt bị cáo mức thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) và miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo tại phiên toà, không có ý kiến bổ sung.

Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo đều giữ nguyên ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và khung hình phạt áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan điều tra. Số ma túy bị Tổ công tác Công an xã M, tỉnh Sơn La thu giữ của bị cáo có nguồn gốc do bị cáo mua được của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bản T, xã M, tỉnh Sơn La, mục đích sử dụng cho bản thân.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Tổ công tác Công an xã M, tỉnh Sơn La lập vào hồi 22 giờ 40 phút, ngày 10/7/2025; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong đồ vật; biên bản xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định; bản Kết luận giám định số 777/KL-KTHS ngày 14/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, đúng với hành vi đã thực hiện, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo đủ nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma tuý là vi phạm pháp luật. Ngày 10/7/2025 bị cáo Lý A T đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,72 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra sau ngày 01/7/2025, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, do đó hành vi của Lý A T đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025), có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.

Về tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ, chính sách độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người cao tuổi sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, nhận thức rõ tác hại của ma túy, biết ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, mua bán, sử dụng nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật nên cố ý phạm tội.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội với thời gian 38 tháng tù mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm chung, phù hợp với mức đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà, tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo đề nghị xử phạt mức án 36 tháng tù là chưa tương xứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo đã thực hiện nên không chấp nhận quan điểm của người bào chữa.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có việc làm, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mẫu giám định ký hiệu T = 0,58 gam. Xét là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cùng vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ của Lý A T, T khai mua của người đàn ông không quen biết, không biết tên tuổi địa chỉ, Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ. Do đó, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về toàn bộ số ma tuý đã bị thu giữ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lý A T: Kết quả xác minh Lý A T không thuộc diện xử lý hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma tuý theo Điều 256a Bộ luật Hình sự, tuy nhiên, đã vi phạm quy định khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Công an xã M đã ra Quyết định xử phạt vi phạt vi phạm hành chính đối với Lý A T về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

[7] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi và là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

[8] Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lý A T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Lý A T 38 (Ba mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2025.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng: 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mẫu giám định ký hiệu T = 0,58 gam.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Sơn La, ngày 15/10/2025).

  3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lý A T.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 31/10/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 1 – Sơn La (2);
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - THAHS;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La;
  • - THADS tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Đào Ngọc Hà

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HS-ST ngày 31/10/2025 của Tòa án Nhân dân Khu vực 1 - Sơn La về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 02/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án Nhân dân Khu vực 1 - Sơn La
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lý A T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Lý A T 38 (Ba mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger