TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày 29 - 10 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đèo Văn Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Chung, bà Lường Thị Khuyển.
Thư ký phiên tòa: Bà Tòng Thị Duyên - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST- HS ngày 09 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Lường Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 04/4/1982; Nơi sinh xã Mường Hung - Sơn La.
Nơi cư trú: Bản C, xã MH, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Thái; giới tính; Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng phái, Đoàn thể: Không; Con ông Lường Văn H, con bà Lường Thị N; có vợ là Tòng Thị L và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc theo quyết định số: 13/QĐ - TA ngày 08/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La với thời hạn 24 tháng, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2025 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 11/7/2025, Tổ công tác Công an xã Mường Hung, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ phòng, chống ma túy tại bản Co Cươm, xã Mường Hung, tỉnh Sơn La phát hiện Lường Văn T có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon màu hồng bên trong có chứa 67 viên nén màu hồng (T khai nhận là viên Hồng phiến) cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lường Văn T, thu giữ vật chứng nêu trên.
Cùng ngày, tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Tiếp, kết quả: 67 viên nén màu hồng thu giữ của Tiếp có tổng khối lượng là 6,80 gam. Trích 05 viên có khối lượng 0,50 gam làm mẫu giám định ký hiệu T1. Vật chứng còn lại 62 viên có trọng lượng 6,30 gam lưu kho ký hiệu T.
Kết luận giám định số 781/KL-KTHS ngày 15/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,50 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 6,80 gam, loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 11/7/2025 Lường Văn T đi bộ từ nhà đến khu vực đồi nương thuộc bản Kéo Co, xã Mường Hung gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 túi nilon màu hồng bên trong chứa 67 viên hồng phiến với giá 500.000 đồng mua được ma túy Tiếp cất giấu trong túi quần phía trước đang mặc đi bộ về đến nhà thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu.
Do các hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKS – KV3, ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La truy tố bị cáo Lường Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Lường Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng nêu.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lường Văn T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 túi nilon màu hồng, bên trong chứa 6,30 gam Methamphetamine.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố và quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa, không có tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 truy tố và khẳng định lời khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hoàn toàn tự nguyện đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định số 781 ngày 15/7/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Ngày 11/7/2025 Lường Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 6,80 gam ma túy, loại Methamphitamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của Lường Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Sơn La truy tố Lường Văn T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét nhân thân tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo tuy chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện chất ma túy đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân từ bỏ chất ma túy, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, bị cáo nhận thức được và biết rõ tác hại của ma túy, hiểu được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện chất ma túy bị cáo cố ý thực hiện; xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; hành vi phạm tội của bị cáo còn thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm minh, tương xứng với tình chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo biên bản xác minh và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xác định bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[6] Về vật chứng của vụ án:
Đối với: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 túi nilon màu hồng, bên trong chứa 6,30 gam Methamphetamine là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy theo quy định điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về số ma túy thu giữ và một số vấn đề liên quan:
- Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được đối tượng cụ thể, do đó không có căn cứ điều tra xử lý.
- Sau khi bị bắt kết quả test ma túy Lường Văn T dương tính với chất ma túy tuy nhiên Lường Văn T không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên không đặt vấn đề xử lý về tội sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định pháp luật.
- Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày, nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo theo Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Về án phí: Xét thấy bị cáo thuộc dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo đề nghị HĐXX xin được miễn án phí nên cần miễn án phí cho bị cáo theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
- Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Lường Văn T 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2025.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 túi nilon màu hồng, bên trong chứa 6,30 gam Methamphetamine (mô tả chi tiết theo khoản 1 biên bản vật chứng giữa cơ quan Điều tra Công an và Phòng THADS khu vực 3 – Sơn La)
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án khu vực 3 - Sơn La, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/10/2025).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn T.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/10/2025).
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đèo Văn Quỳnh |
Bản án số 02/2025/HS-ST ngày 29/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 02/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do nghiện chất ma túy Lường Văn T đã mua và tàng trữ để sử dụng thì bị bắt quả tang
