TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày: 25/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hoàng Mơn;
Ông Đào Hoàng Khương.
-Thư ký phiên tòa: Bà Quảng Thị Kiều Diễm - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2025, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 6 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh ngày 01/01/1983; Nơi thường trú và nơi cư trú: ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là Ấp E, xã T, tỉnh Cà Mau); Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D1 và bà Võ Thị N; Vợ là Lê Thị Mỹ X (đã ly hôn); Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2011 và nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án: 01 (Ngày 11/7/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tuyên phạt 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong ngày 01/10/2024 (chưa xóa án tích); tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/4/2025 và chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực V; có mặt
Bị hại:
1- Nguyễn Văn H, sinh ngày 25/02/1967; Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp V, xã V, tỉnh An Giang); vắng mặt
2- Nguyễn Lộc N1, sinh ngày 29/9/1974; Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp V, xã V, tỉnh An Giang); có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Thị Mỹ X, sinh ngày 01/01/1988; Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là Ấp E, xã T, tỉnh Cà Mau); vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 00 giờ ngày 04/4/2025, Nguyễn Văn D điều khiển xe mô tô BKS 69D1-541.97 (xe của Lê Thị Mỹ X là vợ của D nhưng đã ly hôn đứng tên chủ sở hữu) đi từ thành phố C, tỉnh Cà Mau đến địa bàn huyện V, tỉnh Kiên Giang để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 01 giờ cùng ngày, D điều khiển xe đi đến vuông tôm của Nguyễn Văn H sinh năm 1967 ngụ ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (vuông tôm tại ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang) thì phát hiện 01 motor điện hiệu VTC, công suất 3HP của anh H không người trông giữ, D dùng dụng cụ cờ lê, kìm mang theo mở óc nền motor và cắt dây điện lấy motor bỏ vào vỏ xách nhựa trên xe, sau đó D điều khiển xe đi. Đến khoảng 01 giờ 15 phút cùng ngày, D điều khiển xe đi đến vuông tôm của Nguyễn Lộc N1 sinh năm 1974 tại ấp V, xã V thì phát hiện 01 motor điện hiệu Hồng Ký, công suất 2HP của anh N1 không người trông giữ, lúc này D tiếp tục dùng dụng cụ mở lấy motor bỏ vào vỏ xách nhựa rồi điều khiển đi về thành phố C, khi đi đến đoạn lộ thuộc ấp R, xã V thì bị lực lượng tuần tra Công an xã V kiểm tra, mời về trụ sở làm việc. Qua làm việc và trong quá trình điều tra, D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 (một) motor điện bơm nước, nhãn hiệu VTC, công suất 3HP, cũ đã qua sử dụng.
- - 01 (một) motor điện bơm nước, nhãn hiệu Hồng Ký, công suất 2HP, cũ đã qua sử dụng.
- - 01 (một) vỏ xách nhựa màu xanh, cũ đã qua sử dụng, số lượng: 01 cái.
- - 01 (một) cờ lê bị gãy còn lại một đầu tròn, hiệu standard, số cỡ 17, số lượng: 01 cây.
- - 02 (hai) cờ lê, nhãn hiệu CHROME VANADIUM, cỡ số 13, có một đầu tròn, số lượng: 02 cây.
- - 01 (một) cây kìm kiểu mỏ vịt, có cán cầm bằng nhựa màu xanh-vàng, ký hiệu LS, số lượng: 01 cây.
- - 01 (một) cờ lê cỡ 17, nhãn hiệu CHROME VANADIUM, có một đầu tròn, số lượng: 01 cây.
- - 01 (một) mỏ lếch 250mm BORUNG, 10” DOROP FORGED, số lượng: 01 cây.
- - 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 69D1-541.97, nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu xám-đen, số máy JA52E0247572, số khung RLHJA3842MY113644, xe cũ đã qua sử dụng, số lượng: 01 chiếc.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, ốp lưng bằng nhựa, điện thoại cũ đã qua sử dụng, số lượng: 01 chiếc.
- - Tiền Việt Nam 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng).
* Tại Bản kết luận định giá tài sản: Số 04/KL-HĐĐGTS ngày 08/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện V kết luận tại thời điểm tháng 4/2025:
- - 01 (một) mô tơ điện bơm nước nhãn hiệu VTC, công suất 3HP có giá trị là 4.050.000 đồng.
- - 01 (một) mô tơ điện bơm nước nhãn hiệu Hồng Ký, công suất 2HP có giá trị là 2.150.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 6.200.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSVT ngày 04 tháng 6 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận (nay là Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - An Giang) đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 53 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Viện Kiểm sát không đề nghị.
Xử lý vật chứng: Đối với vật chứng 02 motor điện nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K đã quyết định trả lại cho chủ sở hữu là Nguyễn Văn H và Nguyễn Lộc N1.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Đề nghị trả lại cho Lê Thị Mỹ X sinh năm 1988 ngụ ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau vật chứng: 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 69D1-541.97, nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu xám-đen, số máy JA52E0247572, số khung RLHJA3842MY113644, xe cũ đã qua sử dụng, số lượng: 01 chiếc.
- + Đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn D vật chứng gồm:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, ốp lưng bằng nhựa, điện thoại cũ đã qua sử dụng, số lượng: 01 chiếc.
- Tiền Việt Nam 1.700.000 đồng.
+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy những vật chứng còn lại đã thu giữ nêu trên.
Về phần dân sự: Bị hại Nguyễn Văn H và Nguyễn Lộc N1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Viện kiểm sát không đề nghị.
- - Bị hại Nguyễn Văn H vắng mặt không có lời trình bày. Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.
- - Bị hại Nguyễn Lộc N1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Mỹ X vắng mặt không có lời trình bày. Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án, Lê Thị Mỹ X xin nhận lại 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 69D1-541.97, nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu xám-đen, số máy JA52E0247572, số khung RLHJA3842MY113644, xe cũ đã qua sử dụng, số lượng: 01 chiếc.
- - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với việc vắng của bị hại Nguyễn Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Mỹ X đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt Nguyễn Văn H, Lê Thị Mỹ X.
[3] Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi. Cụ thể: Khoảng 01 giờ ngày 04/4/2025, D trộm cắp 01 motor điện hiệu VTC, công suất 3HP của bị hại Nguyễn Văn H có giá trị là 4.050.000 đồng và khoảng 01 giờ 15 phút ngày 04/4/2025, D trộm cắp 01 motor điện hiệu Hồng Ký, công suất 2HP của Nguyễn Lộc N1 có giá trị là 2.150.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; lợi dụng sơ hở của bị hại, lén lút trộm cắp tài sản; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp; tài sản bị cáo trộm cắp có tổng giá trị là 6.200.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân. Ngoài lần phạm tội này thì bị cáo có 01 tiền án về tội “Cướp giật tài sản” chưa được xoá án tích nhưng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Đồng thời, vào ngày 04/4/2025 bị cáo 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và mỗi lần đều có giá trị trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần tuyên cho bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành thật khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xem xét có phần giảm nhẹ cho bị cáo.
[6] Qua phân tích, xét thấy cần xử bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tập trung để cơ quan có thẩm quyền giáo dục cho bị cáo thành người tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng 02 motor điện, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K đã quyết định trả lại cho các bị hại là Nguyễn Văn H và Nguyễn Lộc N1.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Trả lại cho Lê Thị Mỹ X sinh năm 1988 ngụ ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau vật chứng: 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 69D1-541.97, nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu xám-đen, số máy JA52E0247572, số khung RLHJA3842MY113644, xe cũ đã qua sử dụng, số lượng: 01 chiếc do xe của X đứng tên chủ sở hữu, việc D điều khiển đi trộm cắp tài sản Xuyến không hay biết.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn D: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, ốp lưng bằng nhựa, điện thoại cũ đã qua sử dụng, số lượng: 01 chiếc và Tiền Việt Nam 1.700.000 đồng do vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội.
- - Tịch thu tiêu hủy những vật chứng là công cụ dùng vào việc phạm tội bao gồm:
- + 01 (một) vỏ xách nhựa màu xanh, cũ đã qua sử dụng, số lượng: 01 cái.
- + 01 (một) cờ lê bị gãy còn lại một đầu tròn, hiệu standard, số cỡ 17, số lượng: 01 cây.
- + 02 (hai) cờ lê, nhãn hiệu CHROME VANADIUM, cỡ số 13, có một đầu tròn, số lượng: 02 cây.
- + 01 (một) cây kìm kiểu mỏ vịt, có cán cầm bằng nhựa màu xanh-vàng, ký hiệu LS, số lượng: 01 cây.
- + 01 (một) cờ lê cỡ 17, nhãn hiệu CHROME VANADIUM, có một đầu tròn, số lượng: 01 cây.
- + 01 (một) mỏ lếch 250mm BORUNG, 10” DOROP FORGED, số lượng: 01 cây.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và các Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 53 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 09 (chín) tháng tù, tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 04/4/2025.
2- Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho Lê Thị Mỹ X sinh năm 1988 ngụ ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau vật chứng: 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 69D1-541.97, nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu xám-đen, số máy JA52E0247572, số khung RLHJA3842MY113644, xe cũ đã qua sử dụng, số lượng: 01 chiếc do xe của X đứng tên chủ sở hữu.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn D: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, ốp lưng bằng nhựa, điện thoại cũ đã qua sử dụng, số lượng: 01 chiếc và Tiền Việt Nam 1.700.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy những vật chứng sau:
- + 01 (một) vỏ xách nhựa màu xanh, cũ đã qua sử dụng, số lượng: 01 cái.
- + 01 (một) cờ lê bị gãy còn lại một đầu tròn, hiệu standard, số cỡ 17, số lượng: 01 cây.
- + 02 (hai) cờ lê, nhãn hiệu CHROME VANADIUM, cỡ số 13, có một đầu tròn, số lượng: 02 cây.
- + 01 (một) cây kìm kiểu mỏ vịt, có cán cầm bằng nhựa màu xanh-vàng, ký hiệu LS, số lượng: 01 cây.
- + 01 (một) cờ lê cỡ 17, nhãn hiệu CHROME VANADIUM, có một đầu tròn, số lượng: 01 cây.
- + 01 (một) mỏ lếch 250mm BORUNG, 10” DOROP FORGED, số lượng: 01 cây.
(Các vật chứng trên do chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang quản lý theo Quyết định chuyển giao ngày 04/6/2025 nay là Phòng THADS khu vực 6, tỉnh An Giang).
3- Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4- Bị cáo, bị hại Nguyễn Lộc N1 có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại Nguyễn Văn H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Mỹ X vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kiều Diễm |
Bản án số 02/2025/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 02/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội trộm cắp tài sản
