|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày 27-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Thị Ái Vân
Ông Lương Mạnh Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hà Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Hoàng Thị T, sinh ngày: 05/10/1988 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Hoàng Văn N, sinh năm 1954 và bà: Hoàng Thị P, sinh năm 1952. Có chồng là Lý Văn H, sinh năm 1982 và 02 người con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017. Cùng trú tại: thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ tư. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/10/2024 đến ngày 25/10/2024 được gia đình bảo lĩnh, hiện tại bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Trung tâm học tập cộng đồng xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lâm Văn C. Chức vụ: Giám đốc Trung tâm học tập cộng đồng xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đỗ Quang D, sinh năm 1985. Chức vụ: Phó giám đốc Trung tâm học tập cộng đồng xã Y. Có mặt.
- Ông Luân Văn C1, sinh năm 1984. Chức vụ: Phó giám đốc Trung tâm học tập cộng đồng xã Y. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Lưu Văn Đ, sinh năm 1963. Vắng mặt.
- Bà Triệu Thị Đ1, sinh năm 1978. Vắng mặt.
- Bà Nông Thị Ý, sinh năm 1974. Vắng mặt.
- Bà Lý Thị X, sinh năm 1967. Vắng mặt.
- Bà Lưu Thị X1, sinh năm 1963. Vắng mặt.
- Bà Lưu Thị V, sinh năm 1966. Vắng mặt.
- Ông Mông Văn V1, sinh năm 1967. Vắng mặt.
- Bà Lý Thị V2, sinh năm 1974. Vắng mặt.
- Ông Dương Văn Đ2, sinh năm 1979. Vắng mặt.
- Bà Lâm Thị Đ3, sinh năm 1964. Vắng mặt.
- Bà Triệu Thị Đ4, sinh năm 1963. Có mặt.
- Ông Dương Văn V3, sinh năm 1963. Vắng mặt.
- Bà Dương Thị V4, sinh năm 1967. Vắng mặt.
- Bà Hoàng Thị V5, sinh năm 1963. Vắng mặt.
- Bà Hứa Thị V6, sinh năm 1968. Vắng mặt.
- Bà Hà Thị T1, sinh năm 1969. Vắng mặt.
- Ông Dương Văn T2, sinh năm 1970. Vắng mặt.
- Ông Hoàng Văn V7, sinh năm 1974. Vắng mặt.
- Bà Luân Thị S, sinh năm 1982. Vắng mặt.
- Ông Hoàng Văn N1, sinh năm 1976. Vắng mặt.
- Chị Vũ Thị V8, sinh năm 1991. Vắng mặt.
- Bà Triệu Thị X2, sinh năm 1978. Vắng mặt.
- Chị Hoàng Thị V9, sinh năm 1997. Vắng mặt.
- Ông Đặng Văn T3, sinh năm 1975. Vắng mặt.
- Chị Triệu Thị T4, sinh năm 1989. Vắng mặt.
- Bà Triệu Thị T5, sinh năm 1967. Có mặt.
- Chị Đặng Thị T6, sinh năm 1990. Có mặt.
- Ông Triệu Văn T7, sinh năm 1980. Có mặt.
- Ông Đặng Văn T8, sinh năm 1983. Có mặt.
- Ông Hoàng Văn Đ5, sinh năm 1968. Có mặt.
- Bà La Thị Đ6, sinh năm 1960. Có mặt.
- Bà Lộc Thị Đ7, sinh năm 1970. Vắng mặt.
- Ông Lý Văn Đ8, sinh năm 1968. Vắng mặt.
- Ông Hoàng Văn Y, sinh năm 1975. Vắng mặt.
- Ông Hoàng Văn V10, sinh năm 1969. Có mặt.
- Ông Hoàng Văn V11, sinh năm 1972. Vắng mặt.
- Anh Hoàng Văn V12, sinh năm 1989. Có mặt.
- Ông Triệu Văn T9, sinh năm 1977. Có mặt.
- Ông Lý Văn T10, sinh năm 1967. Vắng mặt.
- Bà Ma Thị V13, sinh năm 1969. Vắng mặt.
- Bà Vi Thị Đ9, sinh năm 1983. Vắng mặt.
- Chị Lương Thị Đ10, sinh năm 1971. Vắng mặt.
- Bà Hoàng Thị X3, sinh năm 1964. Vắng mặt.
- Bà Triệu Thị V14, sinh năm 1984. Vắng mặt.
- Bà Phan Thị T11, sinh năm 1982. Vắng mặt.
- Ông Lâm Văn T12, sinh năm 1974. Vắng mặt.
- Ông Lê Văn T13, sinh năm 1979. Vắng mặt.
- Bà Lý Thị T14, sinh năm 1963. Vắng mặt.
- Bà Hoàng Thị T15, sinh năm 1981. Vắng mặt.
- Anh Lê Văn T16, sinh năm 1993. Vắng mặt.
- Bà Vi Thị T17, sinh năm 1985. Vắng mặt.
- Bà Hoàng Thị T18, sinh năm 1979. Có mặt.
- Ông Vy Văn Đ11, sinh năm 1981. Vắng mặt.
- Bà Lăng Thị Đ12, sinh năm 1980. Vắng mặt.
- Ông Lâm Văn Đ13, sinh năm 1970. Vắng mặt.
- Bà Lâm Thị Đ14, sinh năm 1969. Vắng mặt.
- Bà Lâm Thị X4, sinh năm 1968. Vắng mặt.
- Ông Vi Văn V15, sinh năm 1972. Vắng mặt.
- Ông Vy Văn V16, sinh năm 1975. Có mặt.
- Bà Lâm Thị V17, sinh năm 1976. Có mặt.
- Ông Vi Văn T19, sinh năm 1976. Vắng mặt.
- Ông Vy Văn T20, sinh năm 1982. Vắng mặt.
- Bà Triệu Thị T21, sinh năm 1985. Có mặt.
- Ông Vi Văn T22, sinh năm 1967. Vắng mặt.
- Ông Vi Văn T23, sinh năm 1982. Có mặt.
- Bà Phan Thị T24, sinh năm 1982. Vắng mặt.
- Ông Lâm Văn T25, sinh năm 1982. Có mặt.
- Ông Lý Văn V18, sinh năm 1979. Có mặt.
- Bà Hoàng Thị T26, sinh năm 1990. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Cùng địa chỉ: Thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Cùng địa chỉ: Thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Địa chỉ: Khối phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trung tâm học tập cộng đồng xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn gồm có 04 thành viên: Lâm Văn C sinh năm 1982, trú tại thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Y kiêm Giám đốc Trung tâm học tập cộng đồng xã Y; Đỗ Quang D, sinh năm 1985, trú tại khối phố F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là Phó Hiệu trưởng trường P2 bán trú Trung học cơ sở Y1 kiêm nhiệm chức danh Phó giám đốc Trung tâm học tập cộng đồng xã Y; Luân Văn C1, sinh năm 1984, trú tại thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là cán bộ Văn hoá xã kiêm chức danh Phó giám đốc Trung tâm học tập cộng đồng xã Y và Hoàng Thị T, sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là giáo viên trường P2 kiêm nhiệm giáo viên bán chuyên trách Trung tâm học tập cộng đồng xã Y.
Ngày 28/9/2022, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 3183/QĐ-UBND về việc Phê duyệt kế hoạch mở lớp và dự toán chi tiết các lớp xoá mù chữ trên địa bàn huyện B và giao cho Phòng Giáo dục và đào tạo huyện B làm chủ đầu tư; Giao cho Trung tâm học tập cộng đồng các xã Y, Hồ N, Q, Thiện H1 tổ chức chỉ đạo, thực hiện. Căn cứ Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện, Lâm Văn C đã giao cho Hoàng Thị T xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện việc mở lớp xoá mù chữ trên địa bàn xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Sau đó,
Hoàng Thị T phối hợp với Luân Văn C1 tiến hành rà soát lập danh sách các học viên tham gia lớp xoá mù chữ. Kết quả Trung tâm học tập cộng đồng xã Y đã rà soát, tổ chức mở 03 lớp học xoá mù chữ với tổng số 89 học viên.
Ngày 06/02/2024, ông Lâm Văn C - Giám đốc Trung tâm học tập cộng đồng xã Y chỉ đạo Hoàng Thị T đến Phòng Giáo dục và đào tạo huyện B nhận tiền hỗ trợ chi trả cho học viên lớp xoá mù chữ trên địa bàn xã Y với số tiền 89.000.000 đồng (T27 mươi chín triệu đồng), mỗi học viên được hỗ trợ 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Cùng ngày 06/02/2024, Hoàng Thị T đến Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện B gặp Hoàng Thị T26, sinh năm 1990, trú tại khối phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là Kế toán Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện B để nhận số tiền hỗ trợ cho các học viên tham gia lớp học xoá mù chữ trên địa bàn xã Y. Hoàng Thị T26 đã đưa cho Hoàng Thị T 89.000.000 đồng (T27 mươi chín triệu đồng) tiền mặt để Trung tâm học tập công đồng xã Y chi trả cho các học viên tham gia lớp học, khi nhận tiền Hoàng Thị T ký xác nhận vào danh sách nhận tiền.
Sau khi Hoàng Thị T nhận được tiền, ông Lâm Văn C chỉ đạo Hoàng Thị T chi trả cho các học viên tham gia lớp học, tuy nhiên Hoàng Thị T đã không chi trả cho những người trong danh sách lớp học mà đã tự ký tên thay cho các học viên trong mục “Ký nhận” trong “Danh sách học viên hoàn thành chương trình nhận tiền hỗ trợ các lớp xã Y. Sau khi tự ký nhận tiền cho các học viên, Hoàng Thị T trình Lâm Văn C ký tên và đóng dấu, sau đó gửi danh sách về phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Bình Gia. Hoàng Thị T giữ lại toàn bộ số tiền 89.000.000 đồng (T27 mươi chín triệu đồng) để sử dụng cho bản thân. Sau khi bị lực lượng Công an phát hiện, ngày 18/6/2024, Hoàng Thị T đã tự nguyện giao nộp lại toàn bộ số tiền 89.000.000₫ (T27 mươi chín triệu đồng) cho Công an huyên B để phục vụ công tác điều tra, xác minh.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi tự ký khống vào danh sách nhận tiền của các học viên, không thực hiện việc chi trả tiền hỗ trợ cho các học viên tham gia lớp học xoá mù chữ tại xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn nhằm chiếm đoạt số tiền 89.000.000 đồng (T27 mươi chín triệu đồng) cho bản thân. Việc Hoàng Thị T tự ký khống vào danh sách nhận tiền của các học viên để chiếm đoạt số tiền 89.000.000 đồng (T27 mươi chín triệu đồng) do Hoàng Thị T thực hiện một mình, không do ai chỉ đạo, giúp sức và cũng không có ai khác được hưởng lợi từ số tiền mà Hoàng Thị T chiếm đoạt.
Tiến hành lấy lời khai 68/89 học viên có tên trong danh sách tham gia lớp học xoá mù chữ trên địa bàn xã Y, huyện B đều khẳng định không được ký tên vào danh sách nhận tiền, các chữ ký trong danh sách cũng không phải của các học viên và các học viên không được nhận số tiền hỗ trợ cho học viên tham gia lớp học xoá mù chữ là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
Tiến hành xác minh tại Công an xã Y, huyện B: 20 học viên có tên trong danh sách tham gia lớp học xoá mù chữ không có mặt tại địa phương gồm: Lê Văn T28 sinh năm 1979, Lê Văn Thân sinh năm 1978 đăng ký thường trú tại thôn N, xã Y; Triệu Văn V19 sinh năm 1978, Triệu Thị Đ15 sinh năm 1964, Đặng Thị Đ16 sinh năm 1994, Lý Thị V20 sinh năm 1993, Triệu Văn T29 sinh năm 1983 đăng ký thường trú tại thôn K, xã Y; Hoàng Thị Ý sinh năm 1963, Lý Thị V21 sinh năm 1971, Hoàng Thị T30 sinh năm 1965, Triệu Thị P1 sinh năm 1964, Lâm Thị N2 sinh năm 1989, Luân Thị L sinh năm 1972, Triệu Thị T31 sinh năm 1973 đăng ký thường trú tại thôn K, xã Y; Phan Thị Đ17 sinh năm 1984, Triệu Văn Đ18 sinh năm 1969, Vy Văn X5 sinh năm 1977, Hoàng Thị V22 sinh năm 1964 đăng ký thường trú tại thôn B, xã Y; Hoàng Văn Đ19 sinh năm 1994, Hoàng Thị V23 sinh năm 1980 đăng ký thường trú tại thôn B, xã Y, huyện B. 01 học viên là Lâm Văn X6 sinh năm 1968 đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã Y đã chết, nên không tiến hành gọi hỏi ghi lời khai các học viên có tên như trên được.
Đối với Lâm Văn C, Luân Văn C1 và Đỗ Quang D là Lãnh đạo Trung tâm học tập cộng đồng xã Y đã thiếu trách nhiệm trong việc giám sát, quản lý cán bộ Trung tâm học tập cộng đồng để Hoàng Thị T thực hiện hành vi tham ô tài sản với số tiền thiệt hại là 89.000.000 đồng (T27 mươi chín triệu đồng). Trong quá trình Hoàng Thị T tham ô tài sản, Lâm Văn C, Luân Văn C1 và Đỗ Quang D không chỉ đạo, không biết, không giúp sức Hoàng Thị T thực hiện hành vi phạm tội, không được hưởng lợi số tiền mà Hoàng Thị T đã tham ô. Do vậy không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lâm Văn C, Luân Văn C1 và Đỗ Quang D.
Nguyên đơn dân sự là Trung tâm học tập cộng đồng xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn yêu cầu bị cáo Hoàng Thị T phải nộp khắc phục số tiền tham ô theo quy định của pháp luật. Ngày 18/6/2024, bị cáo Hoàng Thị T đã tự nguyện nộp số tiền 89.000.000 đồng tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để khắc phục hậu quả nên không có yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số: 02/CT-VKS-BG ngày 24/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Thị T về tội "Tham ô tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
a) Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội Tham ô tài sản.
- Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 353; Điều 50; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Thị T từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm. Giao bị cáo cho UBND xã Y theo dõi, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
b) Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 89.000.0000 đồng.
c) Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng, không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện có trong hồ sơ là hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người làm chứng Lưu Văn Đ, Triệu Thị Đ1, Nông Thị Ý, Lý Thị X, Lưu Thị X1, Lưu Thị V, Mông Văn V1, Lý Thị V2, Dương Văn Đ2, Lâm Thị Đ3, Dương Văn V3, Dương Thị V4, Hoàng Thị V5, Hứa Thị V6, Hà Thị T1, Dương Văn T2, Hoàng Văn V7,Luân Thị S, Hoàng Văn N1, Vũ Thị V8, Triệu Thị X2, Hoàng Thị V9, Đặng Văn T3, Triệu Thị T4, Lộc Thị Đ7, Lý Văn Đ8, Hoàng Văn Y, Hoàng Văn V11, Lý Văn T10, Ma Thị V13, Vi Thị Đ9, Lương Thị Đ10, Hoàng Thị X3, Triệu Thị V14, Phan Thị T11, Lâm Văn T12, Lê Văn T13, Lý Thị T14, Hoàng Thị T15, Lê Văn T16, Vi Thị T17, Vy Văn Đ11, Lăng Thị Đ12, Lâm Văn Đ13, Lâm Thị Đ14, Lâm Thị X4, Vi Văn V15, Vi Văn T19, Vy Văn T20, Vi Văn T22, Phan Thị T24 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Hoàng Thị T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công bố, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Hoàng Thị T, sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã Y, huyện B là giáo viên Trường P2 kiêm nhiệm giáo viên bán chuyên trách Trung tâm học tập cộng đồng xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, được Giám đốc Trung tâm học tập cộng đồng xã Y giao nhiệm vụ đến phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Bình Gia nhận tiền hỗ trợ và thực hiện việc chi trả cho học viên lớp xoá mù chữ trên địa bàn xã Y. Tuy nhiên Hoàng Thị T đã không chi trả cho những người trong danh sách lớp học mà Hoàng Thị T đã tự ký tên thay cho các học viên trong mục “Ký nhận” trong “Danh sách học viên hoàn thành chương trình nhận tiền hỗ trợ lợp các xã Y, tham ô số tiền 89.000.000 đồng (T27 mươi chín triệu đồng). Do đó hành vi của bị cáo Hoàng Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ, gây mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân và Nhà nước. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật nên được coi là có nhân thân tốt.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và chủ động tự nguyện khắc phục hậu quả. Bị cáo là dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn tặng danh hiệu Lao động tiên tiến các năm 2014, 2015, 2016. Được Hiệu trưởng trường P2 tặng giấy khen hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học 2018-2019 và 2021-2022. Được Hiệu trưởng trường P2 tặng giấy khen hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học 2020-2021. Bị cáo có ông nội là Hoàng Văn L1 được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Có bố chồng là Lý Văn Đ20 được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Hoàng Thị T có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, qua xác minh tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật và quy định tại địa phương nơi cư trú. Đồng thời bị cáo đã tự nguyện chủ động khắc phục hậu quả. Căn cứ Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP-TANDTC ngày 15/5/2018 và Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, quy định về điều kiện cho hưởng án treo thì bị cáo có đủ điều kiện. Vì vậy, không cần bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi thường trú để giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để giúp bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[8] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, bị cáo không có tài sản riêng và cũng không đảm nhiệm chức vụ gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng: Số tiền 89.000.000 đồng là tiền mà bị cáo Hoàng Thị T đã chiếm đoạt và đã tự nguyện nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B là số tiền liên quan đến hành vi phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[12] Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
[13] Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 353; Điều 50; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 262; Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Tham ô tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Thị T cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 89.000.000₫ (T27 mươi chín triệu đồng).
(Vật chứng nêu trên hiện đang tạm gửi tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tại Kho bạc Nhà nước huyện B, tỉnh Lạng Sơn).
- Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Thị T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Văn Khi |
Bản án số 02/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về tham ô tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 02/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị T, sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã Y, huyện B là giáo viên Trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học T kiêm nhiệm giáo viên bán chuyên trách Trung tâm học tập cộng đồng xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, được Giám đốc Trung tâm học tập cộng đồng xã Y giao nhiệm vụ đến phòng Giáo dục và Đào tạo huyện B nhận tiền hỗ trợ và thực hiện việc chi trả cho học viên lớp xoá mù chữ trên địa bàn xã Y. Tuy nhiên Hoàng Thị T đã không chi trả cho những người trong danh sách lớp học mà đã tự ký tên thay cho các học viên trong mục “Ký nhận” trong “Danh sách học viên hoàn thành chương trình nhận tiền hỗ trợ lợp các xã Y, tham ô số tiền 89.000.000 đồng (Tám mươi chín triệu đồng).
