|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày 19/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Anh Nhinh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Quảng
Ông Hà Đình Sở
Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hồng Nhung, Thư ký viên - Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lương Ngọc Lâm, Kiểm sát viên.
Ngày 19/02/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/HS-ST ngày 13/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Doãn Dũng H - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12/10/1959 tại P, Hà Nội; HKTT: khu N, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 10/10; Con ông: Doãn Đức T (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị S (Đã chết); Vợ: Bùi Thị Đ, sinh năm 1963; Con: có 03 con. Lớn nhất sinh năm 1983. Nhỏ nhất sinh năm 1988;
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/11/2024 đến ngày 08/11/2024. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
2. Họ và tên: Đặng Quý H1 - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 03/3/1973 tại T, Phú Thọ; HKTT: khu T, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 11/12; Con ông: Đặng Hồng K, sinh năm 1946; Co bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1945; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1975; Con: có 03 con. Lớn nhất sinh năm 1993. Nhỏ nhất sinh năm 2008;
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/11/2024 đến ngày 08/11/2024. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
3. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ1 - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 04/6/1982 tại T, Phú Thọ; HKTT: khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 04/12; Con ông: Nguyễn Quang B (Đã chết); Con bà: Trần Thị Y (Đã chết); Vợ: Vũ Thị H2, sinh năm 1983; Con: có 02 con. Lớn nhất sinh năm 2004. Nhỏ nhất sinh năm 2013;
- Tiền án: Bản án số 10/2023/HSST ngày 28/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 28/9/2023 theo Giấy chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách của người được hưởng án treo số 44/GCN ngày 28/9/2024 của Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T.
- Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/11/2024 đến ngày 08/11/2024. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
4. Họ và tên: Đinh Trọng K1 - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/10/1978 tại T, Phú Thọ; HKTT: khu T, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 11/12; Con ông: Đinh Trọng L, sinh năm 1947; Con bà: Vũ Thị T2, sinh năm 1949; Vợ: Đặng Thị H3, sinh năm 1980; Con: có 02 con. Lớn nhất sinh năm 2000. Nhỏ nhất sinh năm 2007;
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/11/2024 đến ngày 08/11/2024. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
5. Họ và tên: Trần Thị T3 - Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 17/7/1978 tại T, Phú Thọ; HKTT: khu L, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 05/12; Con ông: Trần Văn T4 (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H4, sinh năm 1947; Chồng: Đinh Đình K2, sinh năm 1976 (Đã ly hôn); Con: có 02 con. Lớn nhất sinh năm 2003. Nhỏ nhất sinh năm 2013;
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/11/2024 đến ngày 08/11/2024. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
( Các bị cáo H, H1, Đ1, K1, T3 đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 25 phút, ngày 06/11/2024, Doãn Dũng H, Đặng Quý H1, Nguyễn Văn Đ1, Đinh Trọng K1, đến nhà chị Trần Thị T3, để chơi. Quá trình ngồi nói chuyện với nhau được khoảng 05 phút, Doãn Dũng H rủ Đặng Quý H1, Nguyễn Văn Đ1, Đinh Trọng K1 đánh bạc dưới hình thức đánh “Chắn” sát phạt nhau bằng tiền Việt Nam đồng thì được H1, Đ1, K1 đồng ý. Lúc này, T3 cũng có mặt ở đấy và đồng ý cho H cùng mọi người mượn địa điểm nhà mình tại phòng ngủ số 3 (gian cuối) theo hướng từ cửa chính đi vào trong nhà của T3 để đánh bạc, H bảo với mọi người đi vào trong phòng ngồi trước tại đệm đã được đặt sẵn để H đi lấy đĩa sứ làm dụng cụ đựng bài nọc. Tần chỉ cho Hải vị T5 lấy đĩa sứ tại giàn để bát đĩa bên trong bếp nhà T3 để H ra lấy, sau đó H lấy 01 bộ bài chắn ở trong túi quần đã được H mua sẵn từ trước để đánh bạc với Đặng Quý H1, Nguyễn Văn Đ1 và Đinh Trọng K1. Khi tham gia đánh bạc thì ngồi bên tay phải H là K1, ngồi bên tay trái H là H1, ngồi đối diện với H là Đ1. Quá trình đánh bạc thì đến khoảng 10 giờ 25 phút cùng ngày, anh Lương Ngọc L1, đến nhà Trần Thị T3 thấy mọi người đánh bạc nên L1 ngồi ngoài để xem. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày khi Doãn Dũng H, Đặng Quý H1, Nguyễn Văn Đ1, Đinh Trọng K1 vẫn đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 10.100.000 đồng (Mười triệu một trăm nghìn đồng); 100 quân bài chắn đã qua sử dụng, 01 chiếc đĩa sứ hình tròn đã qua sử dụng; 01 chiếc đệm đã qua sử dụng.
Về hình thức đánh bạc là đánh chắn sát phạt nhau bằng tiền. Khi chơi sử dụng quân bài Chắn 100 quân, khi bắt đầu chơi sẽ cho 02 người bất kỳ chia bộ bài chắn thành 5 phần, mỗi phần 19 quân bài chắn, bốn người chơi sẽ chọn một phần được chia và phần thừa sẽ làm nọc. Người bốc bài vào lá bài thì được gọi là quân nhất thì được đánh đầu tiên, bốc vào quân được gọi là quân nhị thì người ngồi bên tay phải người bốc được đánh, bốc vào quân được gọi là quân tam thì người đối diện người bốc được đánh, bốc vào quân được gọi là quân tứ thì người ngồi bên tay trái người bốc được đánh. Người nào thắng ván trước sẽ là người bốc đầu tiên của ván tiếp theo, 02 người ngồi bên phải về bên trái của người thắng ván trước thì sẽ là người chia bộ bài chắn của ván tiếp theo. Quy định “Ù xuông” là 03 người thua sẽ trả người thắng mỗi người 20.000 đồng, “Ù thông” sẽ được 03 người thua trả mỗi người 30.000 đồng, “Ù thông chì” sẽ được 03 người thua trả mỗi người 40.000 đồng, “Dịch” là sẽ được 03 người thua trả mỗi người 10.000 đồng, “Tám đỏ” sẽ được 03 người thua trả mỗi người 70.000 đồng, “Một lèo” là sẽ được 03 người thua trả mỗi người 50.000 đồng, “Hai lèo” sẽ được 03 người thua trả mỗi người 60.000 đồng.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra - Công an huyện T tiến hành khám xét chỗ ở của Trần Thị T3. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì khác.
Tại cơ quan điều tra các bị cáo đã thừa nhận hành vi đánh bạc được thua bằng tiền như đã nêu trên. Khi tham gia đánh bạc các bị cáo khai nhận: Doãn Dũng H sử dụng số tiền 5.000.000 đồng; Đặng Quý H1 sử dụng số tiền 1.370.000 đồng; Đinh Trọng K1 sử dụng số 2.430.000 đồng; Nguyễn Văn Đ1 sử dụng số tiền 1.300.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc các đối tượng chưa kiểm đếm nên không biết thắng thua ra sao.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận sử dụng số tiền 10.100.000 đồng (Mười triệu một trăm nghìn đồng) để đánh bạc phù hợp với số tiền mà Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chứng minh và thu giữ được.
Tại bản Cáo trạng số: 03/CT-VKSThS ngày 13/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố các bị cáo Doãn Dũng H, Đặng Quý H1, Nguyễn Văn Đ1, Đinh Trọng K1, Trần Thị T3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58, Điều 38 - BLHS 2015, đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ1 xử phạt bị cáo Đ1 từ 06 (Sáu) tháng tù đến 09 (Chín) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/11/2024 đến ngày 08/11/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Điều 35 - BLHS 2015, đối với các bị cáo Doãn Dũng H, Đặng Quý H1, Đinh Trọng K1, Trần Thị T3
Xử phạt các bị cáo Doãn Dũng H từ 25.000.000đ đến 30.000.000đ, Quý H1 từ 20.000.000₫ đến 25.000.000đ, Đinh Trọng K1 từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ, Trần Thị T3 từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ để nộp ngân sách nhà nước .
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo Doãn Dũng H, Đặng Quý H1, Đinh Trọng K1, Trần Thị T3, Nguyễn Văn Đ1.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự .
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.100.000 đồng (Mười triệu một trăm nghìn đồng) Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 100 quân bài chắn, đã qua sử dụng; 01 đĩa sứ, đã qua sử dụng; 01 chiếc đệm, đã qua sử dụng.
Các bị cáo không tham gia tranh luận với bản luận tội của Kiểm Sát viên.
Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2]. Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, lời khai các bị cáo tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa, đủ cơ sở Hội đồng xét xử kết luận: Từ 8 giờ 25 phút đến 10 giờ 35 phút ngày 06/11/2024, tại nhà của Trần Thị T3, Trần Thị T3 cho các đối tượng Doãn Dũng H, Đặng Quý H1, Nguyễn Văn Đ1, Đinh Trọng K1, sử dụng khu vực nhà ở của mình và cung cấp đĩa để các đối tượng trên thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi “Chắn” được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 10.100.000 đồng.
Hành vi đó của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo Điều 321- BLHS. Khoản 1 Điều 321 - BLHS qui định:“ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn luận tội, các bị cáo không có lời bào chữa nào khác, thừa nhận Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, không oan, sai. Như vậy, Cáo trạng số 03/CT-VKS-Ths, ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321- BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội và ảnh hưởng xấu đến khu dân cư. Động cơ phạm tội của các bị cáo là sát phạt nhau, tư lợi và có mục đích nhằm tước đoạt tiền bạc, tài sản của nhau. Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn bởi lẽ: Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều không có sự chuẩn bị, bàn bạc phân công cụ thể trước khi phạm tội, số tiền đánh bạc không lớn. Hành vi của các bị cáo còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo nghiêm minh, tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4]. Xét vai trò của các bị cáo: Xem xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cùng các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã chứng minh:
Bị cáo Doãn Dũng H là người khởi xướng rủ Đặng Quý H1, Đinh Trọng K1 và Nguyễn Văn Đ1 tham gia đánh bạc, trực tiếp tham gia đánh bạc đến khi bị bắt quả tang, Các bị cáo Đặng Quý H1, Đinh Trọng K1 và Nguyễn Văn Đ1 trực tiếp tham gia đánh bạc đến khi bị bắt quả tang là đồng phạm, giữ vai trò thứ yếu trong vụ án nên có vai trò như nhau.
Đối với bị cáo Trần Thị T3 là người cho mượn địa điểm, chỉ chỗ cho Doãn D H lấy đĩa sứ để các đối tượng tham gia đánh bạc. Khi cho các đối tượng hỏi mượn địa điểm của Tần để đánh bạc, thì các đối tượng không đưa tiền hay hứa hẹn sẽ đưa tiền cho T3. Bản thân Tần cho các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của mình thì sẽ bán được thuốc lá và nước giải khát cho các đối tượng vì nhà T3 bán hàng tạp hóa. Nên hành vi Trần Thị T3 đồng phạm đánh bạc với các đối tượng với vai trò giúp sức.
[5]. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng. Trong vụ án này, các bị cáo H, H1, K1, T3 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ1 phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52- BLHS.
Các bị cáo Doãn Dũng H, Đặng Quý H1, Đinh Trọng K1, đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đối với bị cáo Trần Thị T3 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bản thân bị cáo T3 không được hưởng lợi ích vật chất khi cho các đối tượng tham gia ánh bạc tại nhà ở của mình. Bị cáo đang là mẹ đơn thân phải nuôi hai con, 01 con còn nhỏ, 01 con bị tâm thần cấp độ 3, được hưởng trợ cấp của nhà nước hàng tháng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ1 năm 2023 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 (C) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, bị cáo chấp hành xong ngày 28/9/2024. chưa được xóa án tích. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Quang B được chính phủ tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng 3, và mẹ đẻ bà Trần Thị Y được chủ tịch nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51-BLHS.
[6]. Về hình phạt: Xét thấy tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên chỉ cần phạt các bị cáo một khoản tiền nhất định, tương xứng với vai trò và hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.
Đối với bị cáo Doãn Dũng H giữ vai trò chính trong vụ án nên phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt, các bị cáo Đặng Quý H1, Đinh Trọng K1, đều là đồng phạm giữ vai trò thứ yếu. Nên phạt các bị cáo mức khởi điểm của khung hình phạt.
Đối với bị cáo Trần Thị T3 không tham gia đánh bạc, không được hứa hẹn hưởng lợi ích vật chát từ việc cho các bị cáo đánh bạc tại nhà ở của mình, bản thân bị cáo có đang là mẹ đơn thân phải nuôi hai con, 01 con còn nhỏ, 01 con bị tâm thần cấp độ 3, được hưởng trợ cấp của nhà nước hàng tháng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 1 Điều 51- BLHS, có nơi cư trú rõ ràng, HĐXX xét thấy cần áp dụng Điều 54 - Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ giáo dục bị cáo đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ1, năm 2023 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 (C) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, bị cáo chấp hành xong ngày 28/9/2024. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về đánh bạc, điều đó chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo với hình phạt thật nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, nên HĐXX xét thấy chỉ cần phạt bị cáo mức hình phạt khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật quy định cũng đủ để giáo dục cải tạo bị cáo thành người công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo H, bị cáo H1, bị cáo K1 và bị cáo T3 bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ1 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã chứng minh, bị cáo Đ1 không có tài sản riêng, làm lao động tự do thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
[8]. Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 10.100.000 đồng ( Mười triệu, một trăm nghìn đồng) thu trên chiếu bạc các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 100 quân bài chắn, đã qua sử dụng; 01 đĩa sứ đã qua sử dụng; 01 chiếc đệm đã qua sử dụng thu tại nhà của Trần Thị T3 là vật chứng vụ án, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[9]. Các nội dung khác.
Các Lệnh cấm khỏi nơi cư trú số 01,02,03,04,05 ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn áp dụng đối với các bị cáo đã hết hiệu lực nên HĐXX không xem xét.
Đối với Lương Ngọc L1, quá trình điều tra xác định, khi các đối tượng H, H1, Đ1, K1 tham gia đánh bạc thì Lương Ngọc L1 ngồi ngoài xem, bản thân L1 không tham gia đánh bạc, không thu lời từ việc đánh bạc. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện T không đề cập xử lý đối với Lương Ngọc L1 là phù hợp. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
1. Tuyên bố:
Các bị cáo Doãn Dũng H, Đặng Quý H1, Nguyễn Văn Đ1, Đinh Trọng K1, Trần Thị T3 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58, Điều 38 - Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ1
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 06 (Sáu) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/11/2024 đến ngày 08/11/2024.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 35 - Bộ luật Hình sự 2015 đối với các bị cáo Doãn Dũng H, Đặng Quý H1, Đinh Trọng K1.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58, Điều 35 - Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị Trần Thị T3.
Xử phạt các bị cáo:
| Doãn Dũng H: | 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng); |
| Đặng Quý H1: | 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng); |
| Đinh Trọng K1: | 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng); |
| Trần Thị T3: | 10.000.000₫ (Mười triệu đồng). |
Nộp ngân sách Nhà nước.
* Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo Doãn Dũng H, Đặng Quý H1, Đinh Trọng K1, Trần Thị T3, Nguyễn Văn Đ1.
2. Vật chứng:
Căn cứ: Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm a, b, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền: 10.100.000 đồng (Mười triệu, một trăm nghìn đồng) thu trên chiếu bạc các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
Tịch thu tiêu hủy: 100 quân bài chắn, đã qua sử dụng; 01 đĩa sứ đã qua sử dung; 01 chiếc đệm đã qua sử dụng.
Vật chứng là đồ vật hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Sơn tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/2/2025 Vật chứng là tiền đang được tạm giữ trong tài khoản tạm thu số 3941.0.9044309.00000 tại kho bạc nhà nước huyện T, theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 07/02/2025.
3. Án phí:
Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Doãn Dũng H, Đặng Quý H1, Đinh Trọng K1, Trần Thị T3, Nguyễn Văn Đ1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7ª, 7b và Điều 9 uật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Thị Anh Nhinh |
Bản án số 02/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về đánh bạc
- Số bản án: 02/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
