|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày 19-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Nguyên
-
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngọc, ông Phạm Ngọc Thắng
-
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Thư ký Toà án
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Thạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 19/02/2025, tại Toà án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 08/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 06/02/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chìu A T1, sinh ngày 01/02/1975 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Bản Q, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chìu Tắc H (đã chết) và bà Voòng Mản N; có vợ là Chíu Thị T (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2024, hiện đang giam – có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Anh Thào Seo L, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Ma Thị S, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 24/10/2024, sau khi đi xe khách từ tỉnh Quảng Ninh đến thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Chìu A T1 đi bộ từ thành phố B theo Quốc lộ B đến huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 6 giờ 00 phút ngày 25/10/2024, Chìu A T1 đi bộ từ Quốc lộ B vào trung tâm xã N, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Trên đường đi bộ vào xã N, Chìu A T1 nhìn thấy trong lùm cây bên đường có 02 xe gắn máy dựng gần nhau không ai trông coi. Chìu A T1 đi lại chỗ 02 xe gắn máy trên thì thấy xe biển kiểm soát 48G1-072.00, loại xe Wave@, nhãn hiệu Honda, màu sơn: đen, mới hơn so với xe còn lại; nên lợi dụng điều kiện đường vắng người qua lại, xe gắn máy không ai trông coi nên Chìu A T1 nảy sinh và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để làm phương tiện đi lại và bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Chìu A T1 đã dùng tay rút dây điện phía trong phần đầu xe, sau đó nổ máy và điểu khiển xe gắn máy biển kiểm soát 48G1-072.00 đi về hướng xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Trên đường đi do lo sợ bị bắt giữ về hành vi phạm tội của mình cũng như biết không thể mang xe gắn máy đi tiêu thụ nên Chìu A T1 đã đến Công an xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để tự thú, giao nộp xe gắn máy biển kiểm soát 48G1-072.00 và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 30/10/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên huyện L, kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 48G1-072.00; loại xe: Wave@, nhãn hiệu: Honda; màu sơn: Đen, tại thời điểm ngày 25/10/2024 có giá trị 16.920.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định xe gắn máy biển kiểm soát 48G1-072.00 loại xe: Wave@, nhãn hiệu: Honda; màu sơn: Đen; số khung: RLHJA3928PY745050, số máy JA39E3212831 là tài sản hợp pháp của gia đình ông Thào Seo L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã quyết định trả lại tài sản và
Tại Bản cáo trạng số 01/CT-VKS, ngày 08/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Chìu A T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Chìu A T1 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
Về xử lý vật chứng, căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe gắn máy biển kiểm soát 48G1-072.00 loại xe: Wave@, nhãn hiệu: Honda; màu sơn: Đen; số khung: RLHJA3928PY745050, số máy JA39E3212831 cho bị hại.
Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu; đồng thời xin được hưởng mức hình phạt khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Ngày 25/10/2024, trên đường đi bộ từ Quốc lộ B vào xã N, huyện L, khi đến đoạn đường thuộc buôn T, xã N, bị cáo Chìu A T1 phát hiện xe gắn máy biển kiểm soát 48G1-072.00 của anh Thào Seo L dựng trong lùm cây bên đường không ai trông coi nên đã lén lút lấy trộm làm phương tiện đi lại và bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau khi trộm cắp được tài sản, bị cáo điều khiển xe đi về hướng huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Do lo sợ bị bắt giữ và biết không thể tiêu thụ tài sản trộm cắp được nên trên đường đi, bị cáo đã đến Công an xã N, huyện Đ để tự thú, giao nộp xe gắn máy trộm cắp.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 30/10/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên huyện L, kết luận tài sản mà bị cáo đã trộm cắp là xe mô tô biển kiểm soát 48G1-072.00 có giá trị 16.920.000 đồng.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
“ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...”
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, vì vậy Hội đồng xét xử cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra xác định xe gắn máy biển kiểm soát 48G1-072.00 loại xe: Wave@, nhãn hiệu: Honda; màu sơn: Đen; số khung: RLHJA3928PY745050, số máy JA39E3212831 là tài sản hợp pháp của gia đình ông Thào Seo L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã quyết định trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định pháp luật; bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Toà án không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo Chìu A T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Bị cáo Chìu A T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Chìu A T1 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/10/2024.
[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Chìu A T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Duy Nguyên |
Bản án số 02/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 02/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
