TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày: 17-02-2025. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thái.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Còn.
- Bà Nguyễn Thị Kim Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Đan Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Trụ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn A; Tên gọi khác: T. Sinh ngày 10/6/1993; Nơi sinh: Long An; Nơi cư trú: Số C, khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị T1; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Huỳnh Văn T2, sinh năm: 1973; Địa chỉ: Số A, N, khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vũ Thanh N, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Vắng mặt.
- Ông Đỗ Văn D, sinh năm: 1963. Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Có đơn xin vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1966. Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm: 1964. Địa chỉ: Số C, khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Tuấn A là người làm thuê lái máy xúc cho ông Huỳnh Văn T2, nhưng đã nghỉ làm được khoảng nửa tháng. Tuấn A biết ông Huỳnh Văn T2 có đậu 01 xe máy xúc đất tại bãi đất trống cặp Đường N, khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An, Tuấn A nảy sinh ý định lấy trộm bộ bơm quay toa của chiếc xe máy xúc trên đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vào sáng ngày 25/7/2024, Tuấn A điều khiển mô tô BKS 62G1-147.03 trên đường đi công chuyện ở thành phố T, tỉnh Long An, Tuấn A nhìn thấy có người bán dạo ven đường có bán cờ lê nên Tuấn A ghé vào mua 01 cờ lê Ø19, bằng kim loại, màu trắng bạc, dài 23 cm và 01 cờ lê Ø17, bằng kim loại, màu trắng bạc, dài 19 cm cất vào trong cốp xe của Tuấn A, để làm công cụ tháo lấy trộm bộ bơm quay toa chiếc xe máy xúc của ông T2. Đến khoảng 18 giờ ngày 25/7/2024, Nguyễn Tuấn A điều khiển xe mô tô BKS 62G1-147.03 từ nhà tại thị trấn T, huyện T chạy đến Đường Cao Thị M thuộc khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An rồi đậu xe mô tô cặp đường và đi bộ theo đường ruộng đến nơi đậu xe máy xúc, Tuấn A leo lên chiếc xe máy xúc và dùng 02 cờ lê tháo mở ống thủy lực gắn trên cùm xe máy xúc, tiếp đến Tuấn A mở 01 bộ bơm quay toa (có đặc điểm hiệu Hitachi 0.15 màu xanh dương, kích thước (15x18)cm, trọng lượng 15,8kg) cho vào 01 cái bao đã chuẩn bị sẵn và mang cái bao đựng bộ bơm quay toa vừa trộm được ra xe mô tô BKS 62G1-147.03, sau đó Tuấn A chở tài sản trộm được về nhà của Tuấn A để cất giấu (Tuấn A ở chung nhà với chú ruột tên Nguyễn Văn L2).
Đến sáng ngày 26/7/2024, Tuấn A gọi điện thoại (zalo) cho Vũ Thanh N, nhà ở xã M, huyện T, tỉnh Long An là thợ dạy nghề cho Tuấn A sửa máy xe cơ giới, Tuấn A nói với anh N là Tuấn A đang có 01 bộ bơm quay toa do chủ xe máy xúc bán xe và còn lại bộ bơm quay toa nên muốn bán lại cho N. N đồng ý mua nên khoảng 09 giờ cùng ngày, Tuấn A điều khiển xe môtô BKS 62G1-147.03 chở bộ bơm quay toa trộm được đến bán cho Vũ Thanh N với giá 2.600.00 đồng, N đã sử dụng tài khoản 6600205815027 của mình chuyển khoản vào tài khoản 6600205473157 của Tuấn A số tiền 2.600.000 đồng. Số tiền này Tuấn A tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận Hội đồng định giá tài sản số: 19/KL-HĐĐG ngày 02/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T kết luận: 01 bộ bơm quay toa của xe máy xúc có đặc điểm: Hiệu Hitachi 0.15 màu xanh dương, kích thước (15x18)cm, trọng lượng 15,8kg, trị giá 8.500.000 đồng.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ: 01 bộ bơm quay toa của xe máy xúc có đặc điểm: Hiệu Hitachi 0.15 màu xanh dương, kích thước (15x18)cm, trọng lượng 15,8kg do Vũ Thanh N giao nộp, thuộc sở hữu của ông Huỳnh Văn T2 bị Nguyễn Tuấn A lấy trộm vào ngày 25/7/2024. Cơ quan CSĐT Công An huyện T đã ra Quyết định xử lý đã trả lại cho ông Huỳnh Văn T2.
Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKSTTr ngày 20 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A theo tội danh và điều luật nêu trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên không đặt ra xem xét.
Bị cáo và các đương sự không có tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng xin được xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng các đương sự đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự, theo quy định tại các Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Tuấn A đã khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 25/7/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô BKS 62G1-147.03 từ nhà chạy đến nơi ông Huỳnh Văn T2 đậu xe máy xúc đất để trộm cắp 01 bộ bơm quay toa hiệu Hitachi 0.15 màu xanh dương, kích thước (15x18)cm, trọng lượng 15,8kg, có giá trị theo định giá là 8.500.000 đồng, đem bán cho Vũ Thanh N với giá 2.600.000 đồng, để lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Điều 173 Bộ luật Hình sự, quy định tội “Trộm cắp tài sản”:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ...”.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Tuấn A đã trộm cắp của ông Huỳnh Văn T2 01 bộ bơm quay toa, có giá trị theo định giá là 8.500.000 đồng. Do đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Tuấn A đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Tuấn A là người có nghề nghiệp nhưng không chịu lao động chính đáng để lo cho bản thân và gia đình, bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản của người khác đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ. Do đó để lập lại trật tự kỷ cương của pháp luật, cần tuyên cho bị cáo một hình phạt tương xứng thì mới đề cao tính nghiêm minh của pháp luật cũng như răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội thì bị cáo cũng có điều kiện để cải sửa bản thân trở thành công dân tốt.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị xử phạt bị cáo về tội danh và mức án trên là phù hợp.
Đối với Vũ Thanh N: Qua điều tra xác định N không biết tài sản mà Tuấn A đem bán là do trộm cắp mà có, khi Cơ quan Công an làm việc Nhã đã tự nguyện giao nộp bộ bơm quay toa cho Cơ quan Công an để phục vụ công tác điều tra. Do đó, hành vi của Vũ Thanh N không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản cho người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Đối ông Nguyễn Văn L2 ở chung nhà với bị cáo Nguyễn Tuấn A, nhưng ông L2 không biết Tuấn A trộm cắp bộ bơm quay toa xe xúc đất của ông Huỳnh Văn T2 mang về cất giấu tại nhà nên Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý đối vối ông L2 là phù hợp.
Đối với xe mô tô biển số 62G1-14703, loại xe Wave RSX, đỏ, đen bị cáo Nguyễn Tuấn A sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, do ông Đỗ Văn D đăng ký đứng tên chủ sở hữu xe dùm cho bà Nguyễn Thị L1 (là dì ruột của bị cáo). Bà L1 cho bị cáo Tuấn A mượn làm phương tiện đi làm, việc bị cáo Tuấn A sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, thì ông D và bà L1 không biết. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý đã trả lại cho người đứng tên đăng ký chủ sở hữu là ông Đỗ Văn D là phù hợp.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Thanh N không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền bán bộ bơm quay toa, nên không xem xét.
[4] Về vật chứng đang tạm giữ: 01 cờ lê Ø19, bằng kim loại, màu trắng bạc, dài 23 cm và 01 cờ lê Ø17, bằng kim loại, màu trắng bạc, dài 19 cm, do bị cáo Nguyễn Tuấn A sử dụng vào việc phạm tội nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu cho tiêu hủy. Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ đang quản lý.
[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm, kể từ ngày tuyên án (17/02/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Tuấn A về cho UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An quản lý, giáo dục.
Trường hợp bị cáo vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tuyên tịch thu cho tiêu hủy: 01 cờ lê Ø19, bằng kim loại, màu trắng bạc, dài 23 cm và 01 cờ lê Ø17, bằng kim loại, màu trắng bạc, dài 19 cm.
Các vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ đang quản lý, theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt, niêm yết hợp lệ bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thái |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Văn Còn – Nguyễn Thị Kim Xuân | Phạm Văn Thái |
Bản án số 02/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 02/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo A trộm cắp máy bơm quay toa
