Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ SƠN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HS-ST

Ngày 22 tháng 01 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc.

Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Nguyễn Xuân Quỳnh;

2, Bà Bùi Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Thái Tài, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mạc Văn P, tên gọi khác: không;

Sinh ngày 10/11/1985 tại xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: bản H, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 07/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Văn T (sinh năm 1957) và bà Lữ Thị D (đã chết); vợ: Kha Thị X (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 08/2020/HSST ngày 29/10/2020 của TAND huyện Kỳ Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 26/7/2021, đã được xóa án tích.

Bị cáo Mạc Văn P bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2024 đến nay, hiện đang tạm giam. Có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Lô Văn T1, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Bản X, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt không lý do.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo cáo trạng số 02/CT-VKS-KS ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An thì bị cáo Mạc Văn P đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị truy tố theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Mạc Văn P đã khai nhận có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với các tình tiết đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, cụ thể là: Vào khoảng 16 giờ ngày 09/12/2024, Mạc Văn P thuê xe lai của một người đàn ông không quen biết đi từ bản H, xã M đến bản Cha Nga, xã M, huyện K để tìm mua ma túy. Khi đến bản Cha N, Mạc Văn P xuống xe rồi tiếp tục đi bộ đến khu vực biên giới giáp ranh giữa Việt Nam - Lào rồi ngủ qua đêm trong rừng. Sáng ngày 10/12/2024, Mạc Văn P đi bộ một đoạn thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết rồi hỏi người này “Có ma túy bán không?”, người đàn ông đó trả lời lại “Có biết chỗ bán ma túy”, sau đó Mạc Văn P đưa cho người đàn ông này số tiền 1.000.000 đồng để nhờ người này mua hộ, người đàn ông đó cầm tiền rồi khoảng 20 phút sau quay lại đưa cho Mạc Văn P 01 gói ma túy (Heroine) được gói trong túi nilon màu trắng. Sau khi mua được ma túy, Mạc Văn P cất dấu trong túi áo rồi đi bộ ra trung tâm bản Cha N thuê xe lai đi về nhà. Khi về đến nhà, Mạc Văn P lấy một ít ma túy (Heroine) ra sử dụng, số còn lại cất dấu như cũ để sử dụng dần.

Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/12/2024, khi Mạc Văn P đang ở nhà tại bản H, xã M, huyện K thì bị tổ công tác Công an huyện K phát hiện bắt quả tang thu giữ số tang vật trên.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 10 giờ 30 phút, ngày 12/12/2024 đã xác định: Chất màu trắng (nghi là ma túy) thu giữ của Mạc Văn P có khối lượng 0,55 gam. Để có cơ sở kết luận Hội đồng đã trích 0,2g (Không phẩy hai gam) chất màu trắng thu giữ của Mạc Văn P đóng gói niêm phong gửi đi giám định.

Tại Kết luận giám định số 1009/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 16/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất màu trắng thu giữ của Mạc Văn P gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất màu trắng thu giữ của Mạc Văn P có tổng khối lượng là 0,55g (Không phẩy năm mươi lăm gam).

2

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mạc Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Mạc Văn P mức án từ 20 (Hai mươi) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù; đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, xử lý vật chứng và quyết định nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Mạc Văn P đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo nhận tội và mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng truy tố. Như vậy đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/12/2024, tại bản H, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an huyện K phát hiện và bắt quả tang Mạc Văn P đang có hành vi tàng trữ 01 (một) gói ma tuý (Heroine) có khối lượng 0,55 gam (Không phẩy năm mươi lăm gam) nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
  3. [3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện. Khi phạm tội bị cáo cũng nhận thức ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước nghiêm cấm, vì ma túy

3

gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế - xã hội cũng như sức khỏe của con người, làm băng hoại đạo đức lối sống và cũng là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bản thân bị cáo còn là đối tượng có nhân thân xấu, đã từng bị kết án mặc dù đã được xóa án tích nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo vẫn bất chấp, coi thường pháp luật tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy làm ảnh hưởng tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần xử lý bị cáo Mạc Văn P nghiêm minh trước pháp luật, tuyên phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng thấy, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  1. [4] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Do đó, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. [5] Hình phạt bổ sung: Thấy rằng bị cáo là người người nghiện ma túy, sinh sống tại vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, việc tàng trữ ma túy chỉ để sử dụng mà không vì mục đích thu lợi bất chính nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  3. [6] Các đối tượng liên quan: Trong vụ án này có người đàn ông đã bán ma túy cho Mạc Văn P, quá trình điều tra, xác minh không xác định được danh tính cụ thể nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này, Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có kết quả sẽ được xử lý.
  4. [7] Vật chứng vụ án: Số ma túy (Heroine) thu giữ của bị cáo sau khi trích mẫu để gửi giám định thì số còn lại (0,35 gam heroin) đang được niêm phong, bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu để tiêu hủy.
  5. [8] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  6. [9] Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

4

  1. Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Tuyên bố bị cáo Mạc Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Mạc Văn P 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 11/12/2024).
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì bưu điện có viền xanh đỏ đang niêm phong, dán kín. Trên mép có đầy đủ chữ ký của Hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Mạc Văn P; đóng dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Nghệ An. Bên trong có 0,35 gam ma túy H và vỏ giấy niêm phong ban đầu. Vật chứng đang do Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 16 giờ 30 phút, ngày 02/01/2025.
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Mạc Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/01/2025)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Kỳ Sơn;
  • - Công an huyện Kỳ Sơn (Cơ quan điều tra,
  • Cơ quan THA hình sự);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Kỳ Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, hồ sơ THAHS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Hữu Lộc

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 02/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/12/2024, tại bản Hòa Lý, xã Mỹ Lý, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an huyện Kỳ Sơn phát hiện và bắt quả tang Mạc Văn P đang có hành vi tàng trữ 01 gói ma tuý heroine có khối lượng 0,55 gam nhằm mục đích để sử dụng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger