|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày 01 – 12 – 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thanh Lịch
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Viễn
Bà Tô Thị Thi
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Thúy DiệuHaiiH - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Dương Văn H; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 10/10/1991 tại xã T, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: xóm C, xã T, tỉnh Cao Bằng); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Dương Văn K, sinh năm 1965 và bà Giàng Thị K1, sinh năm 1968; Vợ: Hoàng Thị H1, sinh năm 2000; Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2019; Tiền sự: không có; Nhân thân: Không.
Tiền án: 01, ngày 26/4/2024 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cao Bằng) xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2025 đến ngày 24/8/2025, tạm giam từ ngày 24/8/2025 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. Có mặt.
Bị hại: Chị Lục Thị M, sinh năm 1995. Địa chỉ: Xóm C, xã T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 18/8/2025, Dương Văn H gọi điện thoại cho chị Lục Thị M để nhờ chị M nhận tiền gửi từ em gái họ của H là Dương Thị S chuyển tiền qua tài khoản của chị M. Sau đó H đi từ nhà ra cửa hàng tạp hóa của chị M cách nhà H khoảng 80m, H ngồi trước cửa quán thấy chị M đang bốc xếp các bao cám ở nhà của chị M đối diện với quán T, trong quán không có ai trông coi. Hiệu đã nảy sinh ý định trộm tiền, H đi thẳng vào cửa hàng tạp hóa đến chỗ hộp giấy để tiền trên giá hàng, tay trái H cầm một tệp tiền được buộc bằng dây chun, gồm nhiều mệnh giá khác nhau rồi cho tiền vào túi quần bên trái, còn số tiền rời trong hộp Hiệu không lấy. Sau khi lấy tiền H ra khỏi cửa hàng tạp hóa rồi đi về nhà lấy xe mô tô đi chơi. Đến xóm C, xã T, tỉnh Cao Bằng đoạn ngã ba rẽ đi xã H, H dừng xe máy và lấy tiền ra đếm thì thấy số tiền H đã trộm được là 3.020.000 đồng, H đã sử dụng số tiền 2.470.000 đồng để tiêu sài cho nhu cầu cá nhân. Ngày 19/8/2025, khi biết việc trộm cắp đã bị lộ Hiệu mang số tiền 550.000 đồng còn lại chưa sử dụng đến nhà trả lại cho chị M. Ngày 21/8/2025 Công an xã T triệu tập các đối tượng trong diện quản lý sử dụng trái phép chất ma túy để test xác định tình trạng nghiện. Trong quá trình làm việc Hiệu khai nhận đã có hành vi trộm cắp tiền vào ngày 18/8/2025. Cơ quan điều tra đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp để tiến hành điều tra, xác minh sự việc trộm cắp tài sản theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn H xác nhận bản thân đã được thực hiện hành vi phạm tội như trên.
Bản Cáo trạng số 02/CT-VKSKV4 ngày 04/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Cao Bằng truy tố bị cáo Dương Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Cao Bằng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Dương Văn H từ 09 đến 12 tháng tù; Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự, không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét; Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định pháp luật.
Tại cơ quan điều tra, bị hại chị Lục Thị M trình bày sau khi sự việc xảy ra bị cáo Dương Văn H mang đã trả lại cho chị M số tiền 550.000 đồng, sau đó bố đẻ của bị cáo là ông Dương Văn K đã thay mặt bị cáo trả lại số tiền 2.470.000 đồng cho chị M. Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị M trình bày đã nhận đủ số tiền bị mất nên không có ý kiến, yêu cầu gì.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân nhân khu vực 4 - Cao Bằng, không có ý kiến tự bào chữa.
Trong lời nói sau cùng bị cáo Dương Văn H trình bày đã biết hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét ban hành bản án phù hợp, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Cao Bằng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại Lục Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, tại Cơ quan điều tra bị hại đã có đầy đủ các lời khai liên quan đến nội dung vụ án, tại phiên tòa bị cáo không đề nghị hoãn phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:
Căn cứ lời khai của bị cáo Dương Văn H tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, các biên bản vụ việc, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ án, bản ảnh, video trích xuất từ camera quán tạp hóa của chị M và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập và đánh giá, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/8/2025 Dương Văn H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản số tiền 3.020.000 đồng của chị Lục Thị M, mục đích để sử dụng chi tiêu cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Cao Bằng truy tố bị cáo ra trước Tòa án là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Về nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội:
Bị cáo Dương Văn H có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi là vi phạm pháp luật nhưng vì nhu cầu chi tiêu của bản thân vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo thực hiện cải tạo, giáo dục, sửa chữa lỗi lầm của bản thân, sau này trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Ngày 26/4/2024 bị cáo đã bị Tòa án xét xử 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi bị phát hiện về hành vi phạm tội bị cáo đã trả lại cho bị hại số tiền 550.000 chưa sử dụng hết và trong quá trình điều tra bố đẻ là ông Dương Văn K đã thay mặt bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền còn lại 2.470.000 đồng cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, ngày 21/11/2015 bị hại chị Lục Thị M có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Hình phạt bổ sung: Bị cáo Dương Văn H làm nghề lao động tự do không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lục Thị M trình bày đã được nhận đầy đủ số tiền bị mất và không có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến và không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo vẫn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Cao Bằng tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Dương Văn H 10 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/8/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại Lục Thị M không có yêu cầu về bồi thường thiệt hại, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo Dương Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Thanh Lịch |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA |
||
|
Tô Thị Thi |
Hoàng Thị Viễn |
Nông Thanh Lịch |
Bản án số 02/2025/HS-ST ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CAO BẰNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 02/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
