|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 02/2025/HS-PT Ngày 06-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đê
Các Thẩm phán:
Ông Lê Văn Hùng
Bà Ngô Thị Kim Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLPT-HS, ngày 07 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Võ Hoang V (Võ Hoàng V1) do có kháng cáo của bị cáo Võ Hoang V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST, ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị cáo có kháng cáo: Võ Hoang V, sinh năm 1967 tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Khóm I, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T (hy sinh) và bà Dương Thị T1, sinh năm 1941; vợ tên Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1968; con có 02 người, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 04/6/2024 cho đến nay (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo của bị cáo nên Tòa án phúc thẩm không triệu tập đến tham dự phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 04/4/2024 bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu trắng - đen, biển số 84E1-082.37 đi từ nhà của bị cáo ở thị trấn M, huyện C đến thị trấn C, huyện C để lấy thịt heo quay đem về bán tại chợ thị trấn M. Sau khi lấy thịt heo quay xong, bị cáo điều khiển chiếc xe mô tô trở về thị trấn M, huyện C, khi đi đến đoạn đường thuộc ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì bị cáo phát hiện phía trước khoảng 10 mét có một chiếc xe đạp đang ngã nằm ngang trên phần đường bên phải cùng chiều hướng đi của bị cáo. Lúc này, bị cáo không giảm tốc độ mà điều khiển xe sang bên trái để tránh xe đạp thì phát hiện bị hại đang ngồi ngay chiếc xe đạp đang ngã, bị cáo không xử lý kịp, dẫn đến bánh trước và chắn bùn bánh trước của chiếc xe mô tô do bị cáo điều khiển va chạm vào vùng lưng của bị hại và kéo bị hại theo một đoạn khoảng 15 mét thì chiếc xe mô tô của bị cáo ngã xuống mặt đường. Còn bị hại thì bị chấn thương nặng và tử vong tại hiện trường.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 117/KLGĐTT-KTHS, ngày 16/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Trà Vinh, kết luận: Bị hại bị xây xát, rách da và bầm tụ máu nhiều vị trí trên cơ thể; nứt xương trán trái, vỡ xương mũi, gãy xương hàm trên bên phải; trong lòng khí quản chứa nhiều máu đông và không đông. Nguyên nhân tử vong là do đa chấn thương.
Tại Kết luận giám định dấu vết cơ học số 230/KL-KTHS, ngày 26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Trà Vinh, kết luận: Xe mô tô biển số 84E1-082.37 có va chạm với bị hại và có va chạm với xe đạp. Bánh trước và chắn bùn bánh trước của xe mô tô và vùng lưng phải nạn nhân là bộ phận va chạm đầu tiên. Chiều hướng va chạm từ hướng xã M đến thị trấn M. Vị trí vùng va chạm đầu tiên được xác định trong biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 04/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C là phù hợp với dấu vết của vụ tai nạn giao thông đường bộ.
Tại kết quả giám định nồng độ cồn trong máu: Bị hại có nồng độ cồn trong máu (thành phần E) là 276,58 mg/100ml máu. Bị cáo không có nồng độ cồn trong máu và không có sử dụng các chất kích thích mạnh khác.
Tại bản án sơ thẩm số 07/2024/HS-ST, ngày 18-11-2024 của Tòa án nhân dân huyện C đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Võ Hoang V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s, điểm x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Hoang V 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Về vật chứng: Trả cho bị cáo Võ Hoang V 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng A1, số H, mang tên Võ Hoang V, nơi cư trú Khóm I, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh, cấp ngày 18/01/2017.
- Về án phí: Buộc bị cáo Võ Hoang V nộp án phí hình sự sơ thẩm bằng 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn quyết định về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, bị cáo làm đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận: Bị cáo điều khiển chiếc xe mô tô tránh chiếc xe đạp và va chạm vào người của bị hại, làm cho bị hại bị tử vong tại hiện trường, đúng như nội dung bản án sơ thẩm. Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, là đúng, không oan, sai. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm: Sau khi phân tích các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm do bị cáo thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đã được Tòa án sơ thẩm áp dụng, xét xử đối với bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo. Tuy nhiên, bị cáo là thân nhân Liệt sĩ nhưng Tòa án sơ thẩm buộc bị cáo chịu án phí hình sư sơ thẩm, là không đúng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận đã điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu trắng - đen, biển số 84E1-082.37 đi từ thị trấn C, huyện C đến thị trấn M, huyện C. Khi đến đoạn đường thuộc ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì bị cáo nhìn thấy phía trước khoảng 10 mét có một chiếc xe đạp đang ngã nằm ngang trên phần đường giao thông, nên bị cáo điều khiển chiếc xe của mình sang bên trái để tránh xe đạp nhưng va chạm vào người của bị hại, dẫn đến hậu quả bị hại bị thương tích nặng và tử vong tại hiện trường.
- Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, là đúng.
- Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi tại nạn xảy ra, bị cáo cùng với Công ty B bồi thường thiệt hại cho những người đại diện hợp pháp của bị hại tổng cộng số tiền bằng 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Bị cáo có cha ruột là Liệt sĩ. Trong quá trình điều tra, những người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn bãi nại, đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ xe và vụ tai nạn (BL 235). Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (BL 311). Cho nên, Tòa án sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, điểm s, điểm x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm nhận định về nhân thân của bị cáo có án tích, đã bị xét xử về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 52/2006/HS-PT, ngày 25-9-2006 với mức hình phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách là 12 tháng. Từ đó, xét xử bị cáo 01 (Một) năm tù, là nghiêm khắc đối với bị cáo. Vì, bị cáo đã chấp hành xong Bản án số 52/2006/HS-PT, ngày 25-9-2006 và thuộc trường hợp đã được xóa án tích. Tại thời điểm phạm tội và xét xử sơ thẩm, bị cáo đã 57 tuổi, có nơi cư trú rõ ràng và chấp hành tốt các quy định của địa phương nơi cư trú, chấp hành các quyết định của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm.
- Mặt khác, trong vụ tai nạn xảy ra, nguyên nhân có một phần lỗi của bị hại do say rượu, bia, có nồng độ cồn trong máu qua giám định là 276.58 mg/100ml máu; khi tham gia giao thông, bị hại không còn đủ minh mẫn, tỉnh táo để điều khiển chiếc xe đạp, làm chiếc xe đạp của bị hại tự ngã và bị hại ngồi ngay trên một phần đường giao thông trong lúc trời còn tối (khoảng 03 giờ 30 phút). Vì vậy, chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.
- Ngoài ra, bị cáo là con ruột của Liệt sĩ và khi xét xử Tòa án sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nhưng, Tòa án sơ thẩm buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm bằng 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), là không đúng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xét thấy quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo, là chưa phù hợp với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đối với quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị sửa bản án sơ thẩm về án phí, là căn cứ chấp nhận.
- Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được Tòa án phúc thẩm chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Võ Hoang V.
Sửa bản án sơ thẩm số 07/2024/HS-ST, ngày 18-11-2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Tuyên bố bị cáo Võ Hoang V (Võ Hoàng V1) phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s, điểm x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Hoang V 01 (một) năm tù và cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, kể từ ngày 06 tháng 02 năm 2025.
Giao bị cáo Võ Hoang V cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh để giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Võ Hoang V 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng A1, số H, mang tên Võ Hoang V, nơi cư trú Khóm I, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh, cấp ngày 18/01/2017.
- Về án phí: Bị cáo Võ Hoang V không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đê |
Bản án số 02/2025/HS-PT ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 02/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ bị cáo Võ Hoang V
