|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
|
| Bản án số: 02/2025/HNGĐ–ST | |
| Ngày: 24-11-2025 | |
| V/v: Ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Quốc, bà Lường Thị Tươi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Trí Danh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 10/2025/TLST - HNGĐ ngày 07-10-2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04-11-2025; giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Tòng Thị P, sinh năm 1993. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản N, xã ME, tỉnh Sơn La. -
Bị đơn: Anh Tòng Văn H, sinh năm 1990. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản N, xã ME, tỉnh Sơn La. (Anh Tòng Văn H hiện đang chấp hành án tại Đội 24; Khu 4 - Trại giam Quyết Tiến, Cục C10, Bộ Công an; địa chỉ: Thôn Đồng Ván, xã Bình Ca, tỉnh Tuyên Quang).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Tòng Thị P trình bày:
Chị Tòng Thị P và anh Tòng Văn H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 15/5/2013 tại Ủy ban nhân dân xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La (Nay là xã ME, tỉnh Sơn La), kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Vợ chồng chung sống hòa thuận với nhau đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, ngoài ra anh Tòng Văn H là người nghiện ma túy, chị P đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh H vẫn không từ bỏ được ma túy dẫn đến hôn nhân gia đình bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Tòng Văn H hiện đang chấp hành án tại Đội 24; Khu 4 - Trại giam Quyết Tiến, Cục C10, Bộ Công an từ ngày 18/6/2025 cho đến nay. Chị Tòng Thị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Tòng Văn H.
Về con chung: Chị Tòng Thị P và anh Tòng Văn H có 02 con chung: Cháu Tòng Thị K, sinh ngày 12/3/2013 và cháu Tòng Minh N, sinh ngày 29/02/2016.
Chị Tòng Thị P đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tòng Thị K và cháu Tòng Minh N.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tòng Thị P không yêu cầu anh Tòng Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong bản tự khai bị đơn anh Tòng Văn H trình bày (Có xác nhận của Trại giam Quyết Tiến):
Anh Tòng Văn H và chị Tòng Thị P kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 15/5/2013 tại Ủy ban nhân dân xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La (Nay là xã ME, tỉnh Sơn La), kết hôn tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, anh H và chị P đã sống ly thân nhau từ năm 2017 cho đến nay. Hiện tại anh đang chấp hành án tại Đội 24; Khu 4 - Trại giam Quyết Tiến, Cục C10, Bộ Công an. Nay chị Tòng Thị P yêu cầu ly hôn, anh Tòng Văn H xác định tình cảm không còn, anh H nhất trí ly hôn với chị Tòng Thị P.
Về con chung: Anh Tòng Văn H và chị Tòng Thị P có 02 con chung: Cháu Tòng Thị K, sinh ngày 12/3/2013 và cháu Tòng Minh N, sinh ngày 29/02/2016. Anh H đề nghị được cùng với chị Tòng Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu Tòng Thị K và cháu Tòng Minh N.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, điều kiện nuôi con và ý kiến của con chung tại địa chỉ nơi cư trú của các đương sự:
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương ngày 24/10/2025 xác định: Chị Tòng Thị P và anh Tòng Văn H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 15/5/2013 tại Ủy ban nhân dân xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La (Nay là xã ME, tỉnh Sơn La). Hôn nhân do hai bên tự nguyện, không bên nào ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn thì chính quyền địa phương không nắm được. Hiện tại chị P và anh H đã sống ly thân từ lâu. Anh H hiện đang đi chấp hành án phạt tù tại Trại giam Quyết Tiến. Về con chung: chị Tòng Thị P và anh Tòng Văn H có 02 con chung là cháu Tòng Thị K, sinh ngày 12/3/2013 và cháu Tòng Minh N, sinh ngày 29/02/2016. Hiện tại cả hai cháu đang ở với chị P. Chị Tòng Thị P có khả năng và điều kiện nuôi con.
Ý kiến của cháu Tòng Thị K, sinh ngày 12/3/2013 (Biên bản ghi ý kiến ngày 22/10/2025): Cháu Tòng Thị K có nguyện vọng muốn ở với chị Tòng Thị P.
Ý kiến của cháu Tòng Minh N, sinh ngày 29/02/2016 (Biên bản ghi ý kiến ngày 22/10/2025): Cháu Tòng Minh N có nguyện vọng muốn ở với chị Tòng Thị P.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Chị Tòng Thị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Chị P giữ nguyên ý kiến như trình bày trong đơn khởi kiện và bản tự khai.
Anh Tòng Văn H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Anh H giữ nguyên ý kiến như trình bày trong bản tự khai.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng đầy đủ tư cách tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đang chấp hành án tại Đội 24; Khu 4 - Trại giam Quyết Tiến, Cục C10, Bộ Công an đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Viện kiểm sát đề nghị:
Về tình cảm: Xử cho chị Tòng Thị P được ly hôn với anh Tòng Văn H.
Về con chung: Giao cháu Tòng Thị K, sinh ngày 12/3/2013 và cháu Tòng Minh N, sinh ngày 29/02/2016 cho chị Tòng Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Tòng Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Tòng Thị P theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Tòng Thị P yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Tòng Văn H có nơi trú tại Bản N, xã ME, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Tòng Thị P, bị đơn anh Tòng Văn H vắng mặt tại phiên tòa đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tòng Thị P và anh Tòng Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai bị ép buộc, được Ủy ban nhân dân xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La (Nay là xã ME, tỉnh Sơn La) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, chị P và anh H là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, anh Tòng Văn H là nghiện ma túy, đã được chị P và gia đình nhiều lần khuyên bảo nhưng anh H vẫn không từ bỏ được ma túy dẫn đến hôn nhân gia đình bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Tòng Văn H hiện đang chấp hành án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Đội 24; Khu 4 - Trại giam Quyết Tiến, Cục C10, Bộ Công an. Chị Tòng Thị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Tòng Văn H. Anh Tòng Văn H nhất trí ly hôn với chị Tòng Thị P.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, biên bản xác minh, bản tự khai của đương sự và tại phiên tòa cho thấy cuộc sống chung vợ chồng của chị P và anh H không hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Tòng Văn H là người nghiện ma túy, đã được chị P nhiều lần khuyên bảo nhưng anh H vẫn không từ bỏ được ma túy, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Giữa chị Tòng Thị P và anh Tòng Văn H đã sống ly thân nhau từ lâu.
Từ các căn cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị P và anh H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Tòng Thị P ly hôn với anh Tòng Văn H.
[3] Về con chung: Chị Tòng Thị P và anh Tòng Văn H có 02 con chung là cháu Tòng Thị K, sinh ngày 12/3/2013 và cháu Tòng Minh N, sinh ngày 29/02/2016. Hiện tại hai cháu đang sống cùng chị Tòng Thị P.
Chị Tòng Thị P đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tòng Thị K và cháu Tòng Minh N. Anh H có ý kiến là được cùng chị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tòng Thị K và cháu Tòng Minh N.
Ý kiến của cháu Tòng Thị K và cháu Tòng Minh N đều có nguyện vọng muốn ở với chị Tòng Thị P.
Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Tòng Văn H là đối tượng nghiện ma túy, hiện đang chấp hành án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Đội 24; Khu 4 - Trại giam Quyết Tiến, Cục C10, Bộ Công an, nên không thể trực tiếp và có điều kiện nuôi con. Ý kiến của các cháu đều có nguyện vọng muốn ở với chị Tòng Thị P. Chị Tòng Thị P có nơi ở ổn định, có công việc và thu nhập. Trong thời gian hai vợ chồng sống ly thân, anh H phải đi chấp hành án thì chị P là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai cháu, chị P đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng các cháu về mọi mặt. Do đó cần chấp nhận ý kiến của nguyên đơn, giao cháu Tòng Thị K và cháu Tòng Minh N cho chị Tòng Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Tòng Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.
Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tòng Thị P và anh Tòng Văn H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Tòng Thị P là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện – kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có yêu cầu được miễn án phí. Do đó căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Tòng Thị P.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Tòng Thị P được ly hôn với anh Tòng Văn H.
- Về con chung: Giao cháu Tòng Thị K, sinh ngày 12/3/2013 và cháu Tòng Minh N, sinh ngày 29/02/2016 cho chị Tòng Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Tòng Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tòng Thị P và anh Tòng Văn H xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết. Do đó không xem xét giải quyết trong vụ án.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Tòng Thị P.
- Về quyền kháng cáo: Chị Tòng Thị P, anh Tòng Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Tiến Dũng |
Bản án số 02/2025/HNGĐ–ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – SƠN LA về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 02/2025/HNGĐ–ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa chị Tòng Thị P và anh Tòng Văn H
