Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21/11/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tố Loan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Minh.

Bà Nguyễn Thị Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên;

Ngày 21 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2025/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 07 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lường Thị N; sinh năm 1991; Địa chỉ: Bản N, xã M, tỉnh Điện Biên (có mặt tại phiên toà).
  2. Bị đơn: Anh Vì Văn D; sinh năm 1987; Địa chỉ: Bản N, xã M, tỉnh Điện Biên (có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/10/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lường Thị N trình bày:

  1. Về hôn nhân: Chị Lường Thị N và anh V Văn Dung chung sống như vợ chồng từ đầu năm 2008 sau đó đến ngày 08/8/2013 anh chị mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (nay là xã M, tỉnh Điện Biên), anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do quan điểm sống bất đồng, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, anh chị đã sống ly thân. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, vì vậy Chị đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 2- Điện Biên giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vì Văn D.
  2. Về con chung: Chị Lường Thị N và anh V Văn D có 02 con chung là cháu Vì Quang H; sinh ngày 18/12/2009 và cháu Vì Thúy H1; sinh ngày 28/7/2012. Nguyện vọng của chị N sau khi ly hôn anh D sẽ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.
  3. Về tài sản riêng; tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về và diện tích ruộng nương: Chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 15/10/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh V Văn D trình bày:

Anh và chị Lường Thị Ngọc C sống như vợ chồng từ đầu năm 2008 sau đó đến ngày 08/8/2013 anh chị mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (nay là xã M, tỉnh Điện Biên), anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do quan điểm sống bất đồng, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, anh chị đã sống ly thân. Nay chị N làm đơn khởi kiện ly hôn, quan điểm của anh không đồng ý ly hôn với chị N, vì anh vẫn còn tình cảm với chị N, không muốn ly hôn. Đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 2- Điện Biên hòa giải cho vợ chồng anh chị quay về đoàn tụ.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Vì Quang H; sinh ngày 18/12/2009 và cháu Vì Thúy H1; sinh ngày 28/7/2012. Vì không muốn ly hôn nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết. Nhưng trường hợp chị N cứ nhất thiết ly hôn với anh D thì anh có nguyện vọng sau khi ly hôn anh D sẽ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Anh D không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về Tài sản: Về tài sản riêng; tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về và diện tích ruộng nương: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên đã tiến hành hòa giải nhiều nhưng lần hoà giải nào cũng không thành. Ngày 30/10/2025 chị N có đơn đề nghị không hòa giải; ngày 07/11/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi giấy triệu tập hợp lệ cho các đương sự.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề con chung; về quan hệ tài sản như nội dung trong đơn khởi kiện và bản tự khai chị N đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 08/10/2025 chị Lường Thị N nộp đơn khởi kiện về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con tại Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên đối với anh Vì Văn D có địa chỉ tại: Bản N, xã M, tỉnh Điện Biên. Cùng ngày chị N có đơn xin miễn án phí, Tòa án đã thụ lý vụ án để giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị N theo Điều 195/BLTTDS.

Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu ly hôn giữa chị Lường Thị N và anh Vì Văn D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

[2] Về Nội dung:

[2.1] Xét về hôn nhân: Chị N và anh D có đăng ký kết hôn theo đúng quy định, nên hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N thấy rằng, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị xảy ra do quan điểm sống bất đồng, không có tiếng nói chung, không ai nói chuyện với ai, mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, anh chị sống ly thân, chị N chuyển về nhà bố mẹ để sinh sống và đi làm thuê. Mặc dù đã được gia đình khuyên can nhiều lần nhưng chị C1 N cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, chỉ gây thêm mệt mỏi cho cả hai.

Tại bản tự khai, đơn xác nhận tình trạng hôn nhân và tại phiên tòa chị N nói rằng hiện nay anh chị đã sống ly thân, chị không còn tình cảm với anh D. Quá trình giải quyết vụ án, chị N có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải cho đôi bên vợ chồng anh chị, điều đó chứng tỏ rằng chị đã không còn muốn chung sống cùng với anh D nữa, mâu thuẫn giữa đôi bên anh chị đã đến mức trầm trọng và không thể hàn gắn được.

Về phía anh D tại bản tự khai thì anh xét thấy mâu thuẫn vợ chồng là do quan điểm sống bất đồng, không có tiếng nói chung, không ai nói chuyện với ai, mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, anh chị sống ly thân, chị N chuyển về nhà bố mẹ để sinh sống và đi làm thuê, nhưng anh vẫn còn tình cảm vợ và không đồng ý ly hôn.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, để đảm bảo quyền lợi của đương sự và để giải phóng cho chị N khỏi tình trạng hiện tại khi mà hôn nhân không thể đem lại hạnh phúc, nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị N và áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, xử cho ly hôn giữa chị chị Lường Thị N và anh Vì Văn D.

[2.2] Về con chung:

Anh Vì V có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung là cháu Vì Quang H; sinh ngày 18/12/2009 và cháu Vì Thúy H1; sinh ngày 28/7/2012. Xét thấy vì từ khi anh chị ly thân, anh D là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến nay, bản thân cháu H và cháu H1 cũng có đơn trình bày nguyện vọng được ở cùng với bố là anh Vì Văn D vì bản thân chị N đi làm xa nhà thỉnh thoảng mới về thăm con, chị N cũng nhất trí để anh D nuôi dưỡng các cháu. HĐXX thấy rằng hiện tại các cháu đang còn đi học, rất cần sự chăm sóc của anh D khi mà chị N đi làm không có nhà. HĐXX thấy rằng hiện tại anh D mới là người có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung. Căn cứ Điều 69 và Điều 81; Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận nguyện vọng của anh D. Giao các con chung là cháu Vì Quang H; sinh ngày 18/12/2009 và cháu Vì Thúy H1; sinh ngày 28/7/2012 cho anh D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có khả năng lao động. Chị N có quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện nuôi các con của anh D.

[3] Xét về tài sản: Về tài sản riêng; tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về và diện tích ruộng nương: Chị N và anh D đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy HĐXX không xem xét.

[4] Về nghĩa vụ chịu án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Lường Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên chị N là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, chị N có đơn xin miễn án phí. Vì vậy HĐXX chấp nhận miễn án phí DSST cho chị Lường Thị N.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lường Thị N với anh Vì Văn D.
  2. 2. Về con chung: Giao các con chung là cháu Vì Quang H; sinh ngày 18/12/2009 và cháu Vì Thúy H1; sinh ngày 28/7/2012 cho anh V Văn Dung trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên hoặc khi có thay đổi khác. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

  4. 3. Về chia tài sản chung; Tài sản riêng; Tài sản chung; Nợ phải trả; Nợ lấy về; diện tích ruộng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. 4. Về án phí: Miễn 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lường Thị N.
  6. 5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/11/2025).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSNDKV2- ĐB;
  • - UBND xã Mường Luân,
  • tỉnh Điện Biên (nơi ĐKKH);
  • - Tòa án ND tỉnh ĐB;
  • - Lưu VP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Tố Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 2- Điện Biên giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vì Văn D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger